MẪU XÉT MÌNH TRƯỚC KHI XƯNG TỘI (Dịch theo nguyên bản tiếng Ý do Phòng đặc trách các Buổi cử hành do Đức Thánh Cha chủ sự, ngày 11-03-2015 -- Linh mục Phanxicô Borgia Trần Văn Khả, ngày 12-03-2015).


MẪU XÉT MÌNH TRƯỚC KHI XƯNG TỘI


(Dịch theo nguyên bản tiếng Ý do Phòng đặc trách các Buổi cử hành do Đức Thánh Cha chủ sự, ngày 11-03-2015 -- Linh mục Phanxicô Borgia Trần Văn Khả, ngày 12-03-2015).

1. Tôi có đi xưng tội với một lòng ao ước chân thành để được thanh luyện, để trở về, canh tân đời sống và nên bạn nghĩa thiết hơn với Thiên Chúa, không? hay tôi coi đó như là một gánh nặng, mà vì thế họa hoằn tôi mới sẵn sàng thực hiện việc này?

2. Tôi đã quên, hoặc, cố tình che giấu các tội trọng trong dịp xưng tội lần trước hoặc trong những lần xưng tội trước đây?

3. Tôi đã làm việc đền tội mà Cha giải tội đã ra cho tôi, chưa? Tôi đã đền bù các lỗi lầm mà tôi đã gây ra chưa? Tôi có cố gắng đem ra thực hiện các quyết định được đề ra để sửa trị đời sống của tôi theo Phúc Âm?

Dưới ánh sáng của Lời Chúa, mỗi người xét mình.

I. Chúa nói : "Con hãy yêu mến Thiên Chúa của con hết lòng con".

1. Con tim của tôi có thực sự hướng về Thiên Chúa không; tôi có thể nói là tôi yêu mến Thiên Chúa thực sự, trên hết mọi sự và với tình yêu của một người con, trong việc trung thành giữ các giới răn của Ngài không? Tôi có để cho mình bị nhào lộn với các sự vật trần thế chóng qua không? Và ý hướng hành động của tôi có luôn ngay thẳng không?

2. Đức tin của tôi vào Thiên Chúa có vững vàng không? Chúa là Đấng, mà trong Con của Ngài, đã ngỏ lời của Ngài với chúng ta? Tôi có chấp nhận hoàn toàn vào giáo huấn của Giáo Hội không? Tôi có lưu tâm tới việc huấn luyện Kitô của tôi, qua việc lắng nghe Lời của Thiên Chúa, tham dự vào các buổi học giáo lý, tránh xa tất cả những điều có thể lừa dối đức tin của tôi? Tôi có luôn luôn tuyên xưng đức tin của tôi vào Thiên Chúa và nơi Giáo Hội với sự can đảm và không sợ hãi không? Tôi có lo biểu lộ tôi là người Kitô trong đời sống riêng tư và công cộng của tôi không?

3. Tôi có cầu nguyện ban sáng và ban chiều không? Và lời cầu nguyện của tôi có thực sự là cuộc nói chuyện với Thiên Chúa, như con tim với con tim, hoặc đó chỉ là việc thực hành đạo đức trống rỗng bên ngoài? Tôi có biết dâng lên Thiên Chúa các mối lo nghĩ bận tâm của tôi, các niềm vui và các đau khổ của tôi không? Tôi có tin tưởng nhớ đến Ngài cả trong những con cám dỗ không?

4. Tôi có tôn kính và yêu mến danh thánh của Thiên Chúa, hoặc tôi đã xúc phạm tới danh thánh đó với những lời chửi rủa, thề gian thề dối, với việc kêu tên Ngài vô cớ? Tôi có bất kính với Đức Mẹ và các Thánh không?

5. Tôi có thánh hóa Ngày của Chúa và các Lễ của Giáo Hội không, với việc tham dự cách tích cực, chú ý và đạo đức, vào các buổi cử hành phụng vụ, và nhất là Thánh Lễ không? Tôi có tránh làm việc không cần thiết trong các Ngày Lễ không? Tôi có giữ luật buộc xưng tội một năm ít là một lần không và có rước lễ trong Mùa Phục Sinh không?

6. Tôi có tôn thờ những "loại thần thánh khác" không? Nghĩa là các cách biểu lộ hoặc các sự vật mà tôi lưu tâm tới hoặc những vật mà tôi đặt tín thác vào chúng hơn là vào Thiên Chúa, thí dụ, của cải giầu sang, mê tín dị đoan, lên đồng bóng và các hình thức khác tương tự?

II. Chúa nói : "Các con hãy yêu mến nhau, như Cha đã yêu các con".

1. Tôi có thực sự yêu mến tha nhân không, hoặc tôi lại lợi dụng anh chị em của tôi, dùng họ vào các mối lợi của tôi và đối xử với họ theo cách mà chính tôi cũng không muốn bị đối xử như thế ? Tôi có gây nên gương mù gương xấu bằng lời nói và các hành động của tôi không?

2. Trong gia đình của tôi, tôi có kiên nhẫn và với tình yêu chân thực đóng góp vào việc ích lợi chung và vào cuộc sống thanh thản của người khác không?

Với từng thành phần trong gia đình :

- Với con cái. Tôi có vâng lời cha mẹ tôi không, tôi có kính trọng và làm vinh danh họ không? Tôi có trợ giúp họ trong các nhu cầu cần thiết về đàng thiêng liêng và vật chất không? Tôi có dấn thân tại trường học không? Tôi có kính trọng quyền bính không? Tôi có nêu gương tốt trong mọi hoàn cảnh không?

- Với cha mẹ. Tôi có lo lắng giáo dục con cái theo tinh thần Kitô không? Tôi đã làm gương tốt cho chúng không? Tôi có nâng đỡ chúng và hướng dẫn chúng với quyền hành của tôi không?

- Với vợ chồng. Tôi có luôn trung thành trong tình cảm và hành động của tôi không? Tôi có biết thông cảm trong những giờ phút lo âu không?

3. Tôi có biết cho đi từ chính tôi, mà không sống cô lập ích kỷ với những ai nghèo túng hơn tôi không? Hoặc tôi có đối xử với tốt với người thân cận, đặc biệt với những người nghèo, yếu đuối, những người bị loại ra ngoài, những người di dân không?

4. Tôi có chú ý tới sứ mệnh được trao phó cho tôi không? Tôi có tham gia vào các công việc tông đồ và bác ái của Giáo Hội, vào các sáng kiến và vào đời sống của giáo xứ không? Tôi có cầu nguyện và đóng góp vào cho các nhu cầu của Giáo Hội và của thế giới không, thí dụ : cho việc nhất của Giáo Hội, cho việc rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, cho việc thiết lập hòa bình và công lý, không?

5. Tôi có lưu tâm tới thiện ích và sự thịnh vượng của cộng đoàn nhân loại, trong đó tôi đang sống hay tôi chỉ lưu tâm tới ích lợi riêng của tôi? Theo sức có thể, tôi có tham gia vào các sáng kiến hầu cổ võ công lý, nền luân lý công cộng, sự hài hòa, các việc gây phúc thiện, không? Tôi có thực hiện các bổn phận người công dân không? Tôi có trả thuế má đều đặn không?

6. Tôi có sống công bằng, dấn thân, lương thiện trong việc làm, có sẵn sàng muốn đóng góp việc phục vụ của tôi vào công ích không? Tôi có trả lương theo lẽ công bằng cho các công nhân và tất cả những người dưới quyền của tôi, không? Tôi có chu toàn các thỏa thuận và giữ trung thành với các lời hứa không?

7. Tôi có thể hiện với nhà cầm quyền chân chính, sự vâng lời và sự kính trọng đúng hợp không?

8. Nếu tôi có giữ nhiệm vụ nào hoặc thi hành công việc lãnh đạo nào, tôi có lo chỉ tìm đem lại ích lợi cho tôi hay tôi dấn thân lo cho ích lợi của người khác, với tinh thần phục vụ?

9. Tôi có sống sự thật và sự trung tín, hay tôi đã đem lại điều xấu cho người khác bằng các lời nói dối, các lời thóa mạ, xuyên tạc, các phán đoán quá chủ quan của tôi, và vi phạm các điều bí mật?

10. Tôi có xúc phạm tới sự sống và sự an toàn thế lý của người thân cận không? Tôi có làm tổn thương đến danh dự của họ, có làm thiệt hại của cải họ có, không? Tôi có gây ra hoặc khuyên thực hiện việc phá thai không? Tôi có nín thinh trong những hoàn cảnh mà trong đó tôi có thể khích lệ thực hiện điều lành không? Trong cuộc sống hôn nhân tôi có kính trọng giáo huấn của Giáo Hội với việc mở ra đón nhận sự sống và kính trọng sự sống không? Tôi có hành động chống lại sự toàn vẹn thể xác (thí dụ : làm mất khả năng sinh sản) không? Tôi có luôn luôn trung thành cả trong tâm trí của tôi không? Tôi có giữ lại trong tôi sự thù oán một ai không? Tôi có hay cãi lẫy sinh sự không? Tôi có nói những lời xỉ nhục và những lời nói xúc phạm, khi gây ra những cuộc xô xát và hận thù không? Tôi có cố tình phạm lỗi và bỏ qua cách ích kỷ làm chứng về sự vô tội của người thân cận không? Khi lái xe, hoặc khi xử dụng các phương tiện giao thông khác tôi có để tôi và người khác rơi vào tình trạng nguy hiểm không?

11. Tôi có trộm cắp không? Tôi có ham muốn một cách bất chính của cải của người khác không? Tôi có làm thiệt hại về tiền của cuẩ tha nhân không? Tôi có đền bù những gì tôi đã lấy đi và tôi có đền bù lại các thiệt hại đã gây ra không?

12. Tôi đã có nhận các điều thiệt hại, sai lỗi, vậy tôi có sẵn sàng làm hòa và tha thứ vì tình yêu của Đức Kitô, hoặc giữ lại trong con tim của tôi sự ghét ghen và ước muốn trả thù?

III. Đức Kitô, Chúa nói : "Các con hãy nên trọn lành như Cha"

1. Đâu là hướng định nền tảng của đời sống của tôi? Tôi có lo lắng với niềm cậy trông về cuộc sống đời đời không? Tôi có tìm cách làm cho đời sống thiêng liêng của tôi được sống động bằng việc cầu nguyện, đọc và suy niệm lời của Thiên Chúa, bằng việc tham dự vào các bí tích, không? Tôi có thực hành việc hãm mình không? Tôi có sẵn sàng và nhất quyết dứt khoát với các tính xấu, làm cho lệ thuộc các tham muốn dục vọng và các hướng chiều về điều xấu không? Tôi có phản ứng vì các lý do ghen tị, tôi có làm chủ thói mê ăn uống của tôi không? Tôi có tự phụ và kiêu ngạo không; tôi có huênh hoang để nói quá về mình đến nỗi đi tới việc khinh thường người khác và coi mình hơn họ, không? Tôi có áp đặt nơi người khác ý muốn của tôi, làm chìm đi tự do của họ và coi thường các quyền lợi của họ, không?

2. Tôi đã dùng thời giờ, sức lực, và các ơn huệ mà tôi đã lãnh nhận được từ Thiên Chúa như là "những nén bạc trong Phúc Âm" thế nào? Tôi có dùng tất cả các các phương tiện này để hằng ngày làm tăng trưởng thêm trong sự hoàn thiện của đời sống thiêng liêng của tôi và trong việc phục vụ người thân cận không? Tôi có sống thụ động hay lười biếng, không? Tôi đã dùng internet và các phương tiện truyền thông xã hội khác, thế nào?

3. Tôi có kiên nhẫn chấp nhận các đau khổ của đời sống trong tinh thần đức tin không? Tôi có tìm cách thực hành sự hãm mình, để làm hoàn tất điều còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Đức Kitô không? Tôi có giữ luật ăn chay và kiêng thịt không?

4. Tôi đã giữ thân xác của tôi trong trắng và thanh sạch theo bậc sống của tôi thế nào, khi nghĩ rằng đó là đền thờ của Chúa Thánh Thần, được hướng tới cuộc sống lại và vinh quang sau này. Tôi có giữ gìn các giác quan của tôi và có tránh làm cho mình ra nhơ bẩn trong tinh thần và thân xác, với tư tưởng và các ước muốn xấu, bằng lời nói và các hành động bất xứng, không? Tôi có để mình đọc các bài sách báo, các bản văn, kịch trường, các cuộc giải trí ngược lại với sự lương thiện nhân bản và Kitô, không? Tôi có là gương xấu cho người khác với cách sống của tôi, không?

5. Tôi có hành động chống lại lương tâm của tôi không, vì sợ hãi hay vì giả hình?

6. Tôi có luôn tìm cách xử sự trong hết mọi tình huống theo sự tự do đích thực của con cái của Thiên Chúa và theo luật của Chúa Thánh Thần, hoặc tôi đã để tôi làm nô lệ các tham vọng của tôi?

7. Tôi có bỏ việc lành mà tôi có thể thực hiện không?

(Dịch theo nguyên bản tiếng Ý do Phòng đặc trách các Buổi cử hành do Đức Thánh Cha chủ sự, ngày 11-03-2015.)

Linh mục Phanxicô Borgia Trần Văn Khả, ngày 12-03-2015

Chiều ngày 21/3/2015 tại sân vận động Hai Bà Trưng – TP Huế đã diễn ra lễ khai mạc giải bóng đá SVCG tại Huế lần thứ V.
Đến tham dự lễ khai mạc có sự hiện diện của cha đặc trách sinh viên công giáo tại Huế Antôn Nguyễn Văn Tuyến, quý thầy đặc trách sinh viên, ban điều hành cùng các đội bóng tham dự giải và toàn thể các bạn sinh viên.
Hằng năm cứ vào dịp mùa chay thánh về Cha đặc trách và ban điều hành sinh viên lại tổ chức giải đấu bóng đá để anh em sinh viên được giao lưu, học hỏi và rèn luyện sức khỏe trong tình huynh đệ hiệp nhất và yêu thương nhau. Giải bóng đá SVCG Huế hàng năm là nơi tôn vinh tình bạn, gieo mầm tin yêu… là nơi phát huy tinh thần của những người trẻ Kitô, thể hiện được sự gắn kết huynh đệ, những ước mơ, khát khao cống hiến của tuổi trẻ trên con đường học tập và dấn thân phục vụ.


Giải năm nay bao gồm cả nam và nữ diễn ra song song với nhau. Giải nam với 9 đội tham gia được chia làm 2 bảng và sẽ thi đấu vòng tròn tính điểm chọn ra hai đội nhất nhì mỗi bảng vào bán kết. Ở giải nữ có 5 đội tham gia và sẽ chia làm 1 bảng thi đấu vòng tròn tính điểm chọn ra 2 đội có điểm số cao nhất vào trận chung kết. So với giải đấu năm ngoái thì giải năm nay có nhiều trận thi đấu hơn và dự kiến chuyên môn cũng như chất lượng các trận đấu sẽ được nâng lên vì các đội đều có sự chuẩn bị rất kĩ lượng cho giải đấu lần này.



Sau phần tuyên bố khai mạc của Cha đặc trách thì giải khán giả và các đội bóng đã được chứng kiến 2 trận đấu khai mạc giưa đội nam Phan Sinh gặp đội nam Nội trú Lasan và trận đấu giữa đội nữ Mân Côi gặp Terexa. Kết quả đội nam Nội trú Lasan đã có màn ra mắt ấn tượng với chiến thắng giòn dã 6-2, ở trận nữ Mân Côi gặp Terexa 2 đội cân tài cân sức đã thủ hòa với tỉ số 0 – 0. 

                                                                    Xem thêm hình ảnh



                                                                                                                                       Antôn Nguyễn

Tam Nhật Vượt Qua là cụm từ dịch từ tiếng La Tinh Triduum paschale. Paschale là tĩnh từ, danh từ là pascha, từ này có nguồn gốc từ tiếng Híp-ri פֶּ֥סַח (PesaH) có nghĩa là nhảy qua hay vượt qua, cũng còn có nghĩa là bỏ qua, tha thứ (x. ĐNTHTK Vượt qua I. 2b).
Từ sau cuộc xuất hành, nó trở thành tên gọi một ngày lễ của Do Thái giáo: Lễ Vượt Qua, được cử hành hằng năm để nhớ việc ĐỨC CHÚA đã giải thoát con cái Ít-ra-en khỏi Ai cập (x. Xh 12,1-14). Từ pascha trong Latinh gần với tiếng Hy lạp: πασχα; tiếng Anh và Pháp có chút khác biệt. (Anh: Passover ; Pháp: Pâque). Chúa Ki-tô chết đúng vào dịp lễ Vượt Qua của Do Thái giáo nên từ Vượt Qua đã mang một ý nghĩa mới : đó là cuộc Phục Sinh vinh hiển của Chúa Ki-tô, chính Người đã vượt qua sự chết mà bước vào cõi sống.
Trong Tuần Thánh, có ba ngày đặc biệt là Thứ Năm, Thứ Sáu và Thứ Bảy. Ba ngày này được gọi là Tam Nhật kèm theo chữ Vượt Qua, để chỉ ba ngày diễn ra những biến cố sau cùng trong cuộc đời dương thế của Đức Ki-tô, bắt đầu từ Lễ Tiệc Ly, đến Kinh Chiều II Chúa Nhật Phục Sinh. Vì vậy, nếu nói là Tam Nhật Phục Sinh thì chưa đủ ba ngày mà mới chỉ có một ngày là ngày Chúa Nhật Phục Sinh, Ngày thứ hai sau đó là Tuần Bát Nhật Phục Sinh. Như thế, trong Phụng Vụ chỉ có Bát Nhật Phục Sinh mà không có Tam Nhật Phục Sinh.
Muốn đồng hóa Tam Nhật Phục Sinh với Tam Nhật Vượt Qua là vô hình trung làm xáo trộn ý nghĩa của sự việc, vì Vượt Qua ở đây muốn liên tưởng đến cuộc vượt qua Biển Đỏ của dân Do Thái, giã từ kiếp nô lệ để bước vào chốn tự do, lên đường đi về Đất Hứa. Phụng Vụ dùng từ này hàm ý diễn tả cuộc Vượt Qua của Đức Ki-tô, đi từ cái chết thảm thương ô nhục đến cuộc chiến thắng khải hoàn trong ngày Phục Sinh.
Cũng như Đức Ki-tô đã vượt qua những nỗi khổ nhục và cái chết để cứu chuộc loài người thì các Ki-tô hữu cũng phải vượt qua những sự hy sinh đau khổ, nhất là đoạn tuyệt với tội lỗi, để sống trong hàng ngũ tự do của con cái Thiên Chúa, hầu mai ngày được hưởng phúc vinh quang với Con của Người là Đấng Phục Sinh vô cùng vinh hiển.
Bởi thế, Tam Nhật Vượt Qua đúng là cụm từ chính xác và thích đáng để chỉ ba ngày trong Tuần Thánh, xét cả về nội dung ý nghĩa lẫn công dụng thông thường trong sinh hoạt phụng vụ.


Lm. An-rê Đỗ Xuân Quế, OP

(Nguồn: VietCatholic)

Số tín hữu Công Giáo, LM và Phó tế vĩnh viễn gia tăng trong Giáo Hội, nhưng số tu sĩ nam nữ tiếp tục giảm sút.
Trên đây là nội dung Niên Giám Thống kê của Giáo Hội hoàn cầu được hoàn tất trong tháng 2 và được Tòa Thánh công bố trong tháng 3 này, trình bày tình trạng Giáo Hội Công Giáo tính đến ngày 31-12-2013.
Theo đó, trên toàn thế giới có 1 tỷ 253 triệu người Công Giáo tức là tăng thêm 25 triệu, nghĩa là tăng 2% so với năm trước đó. Sự tăng trưởng của các tín hữu Công Giáo có phần nhiều hơn so với tỷ lệ gia tăng dân số thế giới và hiện chiếm hơn 17% dân số hoàn cầu.
 Cũng như những năm trước đây, Niên Giám Mới của Giáo Hội Công Giáo ước lượng có khoảng 4 triệu 800 ngàn tín hữu Công Giáo không được ghi trong thống kê vì họ ở những quốc gia không thể cung cấp các con số chính xác cho Tòa Thánh, ví dụ Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.
Theo thống kê mới, người Công Giáo đông nhất vẫn là ở Mỹ châu, chiếm 63,3% dân số đại lục này, tiếp đến là Âu Châu chiếm 39,9% và dân Công Giáo tại Á châu có tỷ lệ thấp nhất, chỉ chiếm 3,2%.
 Số GM trong toàn Giáo Hội là 5.173 vị, tăng 40 vị so với năm 2012 (ĐTC Phanxicô mới cho biết có 1.400 GM về hưu). Trong cùng thời gian đó, số LM triều và dòng tăng thêm 1035 vị, và hiện có 415.348 vị: số LM giáo phận liên tục gia tăng tại Phi châu, Á châu và Mỹ châu nhưng tiếp tục giảm tại Âu Châu.
 Số phó tế vĩnh viễn là 43.195 thầy, tức là tăng thêm 1 ngàn so với năm 2012 trước đó.
 Số tu huynh giảm mất 60 thầy và hiện có 55.253 thầy tính đến cuối năm 2013. Số nữ tu tiếp tục đi xuống và còn 639.575 chị, tức là giảm 1,2% so với năm trước đó, và giảm 6,1% so với tình trạng năm 2008. Bắc Mỹ có số nữ tu giảm nhiều nhất: 16.6% trong vòng 5 năm qua, tiếp đến là Âu Châu: giảm 12,6% trong cùng khoảng thời gian đó.
 Số đại chủng sinh triều và dòng trên thế giới liên tục giảm sút trong 2 năm qua, và còn 118.251 thầy tính đến cuối năm 2013, tức là giảm mất 2.365 thầy kể từ cuối năm 2011. (CNS 24-3-2015)


 G. Trần Đức Anh OP

(Nguồn: VietVatican

Đức Giêsu có thói quen cầu nguyện trong vườn Cây Dầu (Lc 22,39). Tại vườn này, buổi tối cầu nguyện trước cuộc thương khó thật đặc biệt.Tin Mừng Nhất Lãm đều kể lại sự kiện Đức Giêsu cầu nguyện trong thổn thức và xao xuyến. (Mt 26,36-46; Mc 14,32-42; Lc 22,39-46). Thấy trước cuộc khổ nạn, Đức Giêsu cầu nguyện đến mức “Mồ hôi của Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22,44). Tuần Thánh, dừng lại nơi vườn Cây Dầu để suy niệm cuộc vượt qua của Đức Giêsu.
1.  Đức Giêsu đổ mồ hôi máu
Trong dịp hành hương Đất Thánh, tôi có đến vườn Cây Dầu, nơi đây Chúa Giêsu đã trải qua cơn hấp hối khủng khiếp.Vườn có nhiều cây Ôliu gốc to sần sùi, dáng cổ ẩn dấu thời gian rêu phong. Nơi đây Chúa quì cầu nguyện trước khi bước vào khổ nạn. Khu vườn nằm sát bên Thánh Đường Các Dân Tộc. Gọi tên như vậy vì nhiều quốc gia đã đóng góp tiền của để xây nên Thánh Đường này.
 
Vườn cây dầu
Trước bàn thờ, tảng đá lớn được bao quanh bằng hàng rào thấp nhỏ như chiếc mão gai, có thể đưa tay để đặt vào tảng đá. Chúng tôi quỳ trước tảng đá cầu nguyện. Thật bồi hồi xúc động, được quỳ gối nơi Chúa đã từng quỳ gối cầu nguyện đến đổ mồ hôi máu. Mỗi người hôn kính tảng đá và thì thầm cầu nguyện với Chúa cách sốt mến lạ lùng. Chính tại nơi đây đã diễn ra đêm sầu khổ tột cùng của Chúa. Thời gian là vào khoảng 10 giờ đêm. Phía đông trăng tròn đã lên cao, tỏa ánh sáng huyền ảo xuống mặt đất, những nấm mồ trắng lung linh nhập nhoà. Các ngọn đuốc của đám vệ binh Đền thờ rọi sáng cả khu vườn. Tiếng lách cách của gươm đao, tiếng loảng xoảng của lưỡi kiếm khua vang trong đêm tĩnh lặng. Đêm cuối cùng. Cuộc Khổ Nạn bắt đầu. Ngày mai Ngài sẽ gặp cái chết và nấm mồ. Đức Giêsu vào vườn cùng với ba tông đồ: Phêrô, Giacôbê và Gioan.
 
Bàn thờ
Tấn kịch bi thảm sắp diễn ra, Đức Giêsu có một cảm giác đau đớn, lo lắng, bồi hồi, xao xuyến đến tột cùng: “Người cảm thấy hãi hùng xao xuyến” (Mc 14,33); Đức Giêsu thổn thức: “Linh hồn Thầy buồn đến chết được”. Đấng Toàn Năng, cố vấn kỳ diệu, người chiến thắng sự chết và tử thần, lại xem ra ngã quỵ trước viễn tượng khổ giá. Ngài yêu cầu các môn đệ giúp đỡ: “Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (Mt 26,38). Nhiều lần Đức Giêsu từng dặn dò các môn đệ “canh thức”, nhưng chưa lần nào nói “với Thầy” như hôm nay. Rồi bắt đầu cơn hấp hối, Ngài sấp mặt xuống nằm phủ phục dưới đất. Thân mình Ngài run rẩy đến nỗi mồ hôi rịn ra hòa lẫn với máu. Lời Thánh vịnh mô tả: “Nghe trong tim mình đau thắt lại, bóng tử thần khủng khiếp chụp xuống con. Bao run sợ nhập cả vào người, cơn kinh hãi tứ bề phủ lấp”. (Tv 54,5-6 ).Ứng nghiệm vào Đức Giêsu thật chính xác. Ngài bị đánh đòn trong tư tưởng và đóng đinh trong ý nghĩ trước khi cuộc khổ nạn xảy ra. Viễn tưởng đó sẽ diễn ra tại vườn Cây dầu, rồi dốc ngược lên nhà Anna, tới chỗ dinh Caipha rồi cho đến đồn binh Antonia, dọc theo các phố xá đến lúc chết tủi nhục đớn đau trên thập giá và mai táng trong mồ. Ngài trông thấy tất cả, phải nếm sự cay đắng tột cùng của kiếp người cô đơn.
Ngài khóc với con tim rướm máu. Máu và nước mắt ấy là giọt sương của đêm cuối cùng trên trái đất. Có những nỗi khổ đau làm tan nát trái tim. Lúc này thần chết đã đứng ngoài ngưỡng cửa của cơn hấp hối.     
2. Điều gì làm cho Đức Giêsu đổ mồ hôi máu?
Mồ hôi máu (en: Hematidrosis) hay chứng đổ mồ hôi máu là tình trạng rất hiếm gặp xảy ra ở người khi đang trong trạng thái tâm thần, cảm xúc và căng thẳng thể lý một cách cực độ, ví dụ như đang đối diện với cái chết, làm họ tiết ra mồ hôi máu. Một số tài liệu tham khảo về lịch sử đã mô tả hiện tượng này, đáng chú ý là những tài liệu của Leonardo da Vinci đã mô tả về: một người lính trước khi ra trận hay một người đàn ông bất ngờ chịu một án tử hình đã đổ mồ hôi máu, cũng như theo chi tiết trong Kinh Thánh thì Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi máu khi đang cầu nguyện trong vườn Getsemani (Lc 22,44). (x.vi.wikipedia.org).
Điều gì đã làm cho Đức Giêsu phải đau đớn buồn phiền đến mức phải “đổ mồ hôi máu”?
Phải chăng Ngài run sợ trước cái chết? Hay lo lắng trước những đau đớn thể xác sắp phải chịu? Không! Đức Giêsu không run sợ trước cái chết hay bất cứ nhục hình nào. Đau đớn thể xác không thể làm cho Ngài buồn phiền và lo lắng đến như thế. Biết bao thánh tử đạo đã hy sinh mạng sống mình mà không lo lắng buồn phiền, trái lại còn rất hân hoan vui mừng nữa. Chẳng lẽ Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người lại sợ hãi cái chết, lo buồn vì những hình phạt thể xác sẽ xảy đến cho mình mà “đổ mồ hôi máu” hay sao?
Vậy thì điều gì làm cho Ngài muộn phiền đến vậy? Câu trả lời thật đơn giản, chỉ nằm gọn trong một từ: “chén”. Đức Giêsu lặp lại đến 3 lần cùng một lời cầu nguyện: “Abba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn mà làm điều Cha muốn” (Mc 14,36). Chén này là chén Chúa Cha đã trao cho Đức Giêsu (Ga 18,11). Cách đó ít lâu trước giấc mơ quyền lực của hai môn đệ thân tín, Đức Giêsu đã từng nhắc đến: “Các người không biết các người xin gì ! Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?” (Mt 20,22; Mc 10,38). Vậy, Chén ấy là chén gì mà khiến Đức Giêsu phải “ngập ngừng” như thế? (Giuse Duy Thạch).
Bị phản bội trong tình yêu, đó là nỗi đau đớn nhất. Trái tim co thắt từng cơn và tâm hồn xao xuyến muộn phiền tột cùng. Đức Giêsu, người trao ban tình yêu sắp bị phụ bạc, sắp bị chối từ. Các môn đệ trốn chạy, mọi người khinh khi nhục mạ. Đức Giêsu đau buồn đến “đổ mồ hôi máu” không phải vì lo lắng sợ hãi trước cuộc khổ hình thập giá cho bằng những khao khát yêu thương bị chối từ.
Đã có bao nhiêu người đi theo và nhận lãnh những ân huệ của Chúa Giêsu? Những trích đoạn Tin mừng sau đây giúp tính thử bằng con số.
-        Mười hai Tông Đồ, đứng đầu là ông Simôn, cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê, Giacôbê, Gioan, Philípphê, Batôlômêô, Tôma, Mátthêu, Giacôbê, Tađêô, Simôn và Giuđa Ítcariốt (Mt 10,2-4).
-        Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến (Lc 10,1).
-        Năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con [đã được ăn uống no nê] (Mt 14,13; Mc 6,30-44; Lc 9,10-17; Ga 6,1-14).
-        Bốn ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con [đã được ăn uống no nê] (Mt 15,38-39).
Tính sơ sơ đã thấy có tổng số 9.084 người. Tin Mừng Gioan và Máccô còn cho biết con số theo Chúa Giêsu không chỉ giới hạn ở con số 9.084 người mà còn nhiều hơn nữa. Chắc chắn trong số này đã có rất nhiều người đã từng thọ ơn của Chúa Giêsu.
-        Có rất đông dân chúng đã đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm (Ga 6,2).
-        Từ miền Galilê, người ta lũ lượt đi theo Người. Và từ miền Giuđê, từ Giêrusalem, từ xứ Iđumê, từ vùng bên kia sông Giođan và vùng phụ cận hai thành Tia và Xiđôn, người ta lũ lượt đến với Người, vì nghe biết những gì Người đã làm (Mc 3,7-8).
-        Nhiều kẻ tin vào danh Người bởi đã chứng kiến các dấu lạ Người làm ở Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua (Ga 2,23).
-        Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ (Ga 13,2).
-        
Như vậy, Chúa Giêsu là thần tượng và là vị đại ân nhân của cỡ chừng vài chục ngàn người chứ không phải ít bởi vì chính những ông Pharisiêu đã bảo nhau: “Các ông thấy chưa: các ông chẳng làm nên trò trống gì cả! Kìa thiên hạ theo ông ấy hết!” (Ga 12,17-19). Rất đông người đi theo, ngưỡng mộ và nhận lãnh những ơn huệ của Chúa Giêsu. Nhưng khi Người lâm nạn thì có bao nhiêu người đến chia sớt những nỗi cô đơn, đau khổ?. Có bao nhiêu người đến trả nghĩa dù là một chén nước lã, hay ghé vai vác đỡ thập giá trên đường thương khó?
Không thấy ai cả.
Khi Chúa Giêsu bị bắt, các môn đệ chạy tán loạn, chạy bán sống bán chết đến độ không còn một mảnh vải để che thân nữa (Mc 14,51-52). Chỉ còn ông Phêrô là “can đảm” theo Thầy xa xa. Ngày nay, ngoài vườn Giếtsêmani còn một động đá mệnh danh là “hang phản bội”, để nhắc lại biến cố đau lòng của Phêrô và các môn đệ đã bỏ Chúa. Mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, trong đó có bà Maria Mácđala, bà Maria mẹ các ông Giacôbê Thứ và Giôxết, cùng bà Salômê (Mc 14,52-54; 15,40)… Đức Giêsu dường như cô độc giữa một biển người đồng hương. Không có ai đứng ra bàu chữa. Trong mắt họ, Ngài còn thua tên cướp Baraba. Họ khinh bỉ và khạc nhổ vào Ngài. Tình yêu bị chối từ là niềm đau đớn nhất. Đức Giêsu khao khát được yêu họ, được mang ơn cứu độ cho họ cho đến hơi thở cuối cùng. Thế mà tất cả đều chối từ. Lời Thánh vịnh ứng nghiệm: “Nỗi sầu riêng mong người chia sớt, luống công chờ không được một ai; Đợi người an ủi đôi lời, trông mãi trông hoài mà chẳng thấy đâu” (Tv 69,21). Mồ hôi và máu chảy ra là do tự nỗi đau tột cùng ở trong tâm hồn đã làm đứt các mạch máu và máu chảy ra. Đức Giêsu thấy trước những vong ân bội nghĩa, thấy bị bỏ rơi trong cô đơn, thấy những tội lỗi nhân loại nên đau khổ tột cùng. “Chén đắng” là như thế, Ngài không “đổ mồ hôi máu sao được”?.
3. Đón nhận chén đắng với lòng vâng phục
Dù bị các môn đệ bỏ rơi, bị giới lãnh đạo cô lập, Chúa Giêsu vẫn bình thản trước các sự kiện đang diễn ra. Người hoàn toàn tự do để đón nhận hay khước từ. Người có thể khước từ chén đắng, nhưng không, Người đã đón nhận trong tinh thần vâng phục thánh ý Chúa Cha. Dầu vậy, khi giờ đã đến, Người vẫn cảm thấy hãi hùng, xao xuyến nên đã cầu nguyện. Cầu nguyện trong cô đơn và sợ hãi đến độ mồ hôi máu bịn rịn nơi thân thể. Đây quả là giờ của đau khổ, giờ của hãi hùng, giờ bị mọi người khước từ. Đây là chén đắng của cuộc đời. Chén chua chát bị ruồng bỏ, bị nhạo báng đến nỗi Người đã nại vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha, Cha có thể làm mọi sự, xin cho con khỏi uống chén này”, nhưng đón nhận thánh ý Chúa Cha, Người lại tiếp tục bình thản để thưa lên cùng Cha: “nhưng xin đừng theo ý con, một xin vâng ý Cha trọn đời”.
Chúa Giêsu bị phản bội, bị hiểu lầm, bị ghen ghét, chịu kết án cách bất công để cứu nhân loại khỏi án phạt đời đời. Người đã chết để đền tội, để chuộc tội, để gánh tội, để cứu độ con người. Người cho chúng ta được thông phần cuộc sống của Đấng “là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống”, cho chúng ta “được sống dồi dào”.
Con người được dựng nên để sống và sống để yêu Chúa và để yêu nhau. Thiên Chúa là tình yêu nên đã sáng tạo muôn loài, đã tạo dựng và cứu chuộc con người. Nhập Thể và Cứu Chuộc là mầu nhiệm của tình yêu. Chúa Giêsu đã chấp nhận chén đau thương để đem lại tình yêu thương cho con người. Người đã biến đổi viên mãn của đau thương thành viên mãn của yêu thương qua cuộc khổ nạn (x.1Cr 15, 26 . 54; Dt 2, 14), để từ trong cái chết vì tình yêu, sự sống vươn lên tươi đẹp như một mùa lúa mới (Ga 12, 24). Tuần Thánh giúp ta chiêm ngắm tình yêu vô bờ bến của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha và với nhân loại.
Xin Chúa cho chúng con luôn sống yêu thương, biết đem Tin Mừng bình an đi xây dựng cuộc đời.


Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Giuđa đã được lựa chọn ngay từ đầu trong Nhóm Mười Hai. Khi đưa tên ông ta vào trong danh sách các tông đồ, Thánh Sử Luca viết: "Giuđa Iscariot, người trở thành (egeneto) một kẻ phản bội" (Lc 6:16). Như thế, Giuđa đã không phải là một kẻ phản bội từ lúc lọt lòng mẹ, và cũng chẳng phải là một kẻ phản bội lúc Chúa Giêsu chọn ông; sau này ông mới trở thành một kẻ phản bội! Chúng ta đang đứng trước một trong những thảm kịch bi đát nhất của tự do con người.


“Giuđa, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ” (Ga 18:5).
Lịch sử Thiên Chúa – loài người trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu bao gồm nhiều câu chuyện nhỏ về những người nam nữ tham gia vào những mảng sáng, tối của biến cố này. Câu chuyện bi thảm nhất là câu chuyện của Giuđa Iscariot. Đây là một trong số ít các sự kiện được đề cập với cùng một mức nhấn mạnh như nhau bởi cả bốn sách Phúc Âm và phần còn lại của Tân Ước. Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đã suy tư rất nhiều về sự kiện này và chúng ta thật là bất cẩn nếu không làm như thế. Câu chuyện này có nhiều điều để nói với chúng ta.
Giuđa đã được lựa chọn ngay từ đầu trong Nhóm Mười Hai. Khi đưa tên ông ta vào trong danh sách các tông đồ, Thánh Sử Luca viết: "Giuđa Iscariot, người trở thành (egeneto) một kẻ phản bội" (Lc 6:16). Như thế, Giuđa đã không phải là một kẻ phản bội từ lúc lọt lòng mẹ, và cũng chẳng phải là một kẻ phản bội lúc Chúa Giêsu chọn ông; sau này ông mới trở thành một kẻ phản bội! Chúng ta đang đứng trước một trong những thảm kịch bi đát nhất của tự do con người.

Tại sao anh ta trở thành một kẻ phản bội? Cách đây không lâu , khi luận đề về "Chúa Giêsu cách mạng" đang cuốn hút nhiều người, người ta cố gắng để gán cho hành động phản bội của Giuđa những động cơ mang tính lý tưởng. Có người nhìn thấy trong tên của ông ta "Iscariot" một chút biến tướng của từ sicariot, nghĩa là anh ta thuộc về một nhóm cuồng tín cực đoan chuyên sử dụng một loại dao găm (sica) để chống lại người La Mã. Lại có những người khác nghĩ rằng Giuđa đã thất vọng với Chúa Giêsu về cách Ngài trình bày "vương quốc Thiên Chúa" và muốn buộc Ngài ra tay hành động chống lại các dân ngoại cả trên bình diện chính trị. Đây là Giuđa của vở nhạc kịch nổi tiếng Jesus Christ Superstar và của những bộ phim và tiểu thuyết khác được chào đời gần đây - một Giuđa giống như một kẻ nổi tiếng đã phản bội ân nhân mình, là Brutus, người đã giết Julius Caesar để cứu nền Cộng hòa La Mã!
Đây là những tái tạo lại câu chuyện phải được tôn trọng nếu như chúng có giá trị văn học nghệ thuật. Tuy nhiên, chúng không có bất kỳ cơ sở lịch sử nào. Những sách Phúc Âm là các nguồn đáng tin cậy duy nhất mà chúng ta có về nhân vật Giuđa đều đồng thanh nói về một động cơ rất trần tục: đó là tiền. Giuđa đã được giao phó giữ tiền của nhóm; khi bà Maria Mađalêna xức dầu thơm cho Chúa tại Bethany, Giuđa đã phản đối việc dùng dầu thơm quý giá để đổ lên chân Chúa không phải vì ông quan tâm đến người nghèo nhưng, như thánh Gioan lưu ý , "vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung."(Ga 12:6). Đề nghị của ông với các thượng tế thật là rõ ràng: ‘Các ông định cho tôi bao nhiêu, nếu tôi giao nạp Người cho các ông? Và các thượng tế ấn định số tiền là 30 đồng bạc’” (Mt 26,15).
Nhưng tại sao người ta lại ngạc nhiên trước lời giải thích này, câu trả lời hiển nhiên quá mà? Chẳng phải chuyện như thế vẫn luôn xảy ra trong lịch sử và vẫn xảy ra ngày hôm nay sao? Mammon, thần tài, không chỉ là một ngẫu tượng trong số rất nhiều những ngẫu tượng: nhưng đó là thứ ngẫu tượng trỗi vượt nhất, đó là thứ "thần được người ta đúc lên" (xem Xh 34:17) Và chúng ta biết lý do tại sao. Khách quan mà nói ai là kẻ thù thực sự, là đối thủ của Thiên Chúa trong thế giới này? Không phải Satan sao? Chẳng ai quyết định phụng sự Satan mà không có một động cơ . Bất cứ ai quyết định làm như vậy đều tin rằng họ sẽ có được một số quyền thế hoặc lợi ích trần tục nào đó từ hắn ta. Ngoài Thiên Chúa ra, một số người lại có một ông chủ khác đối nghịch với Thiên Chúa, Chúa Giêsu nói với chúng ta rõ ràng người chủ khác ấy là ai: "Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được "(Mt 6:24). Tiền của là thứ “thần có thể nhìn thấy được” trái ngược với Thiên Chúa là Đấng vô hình.
Thần tài chống lại Thiên Chúa vì nó tạo ra nơi con người một vũ trụ tinh thần khác; nó thay đổi mục đích của nhân đức đối thần. Đức tin, hy vọng và lòng bác ái không còn được đặt vào Thiên Chúa nhưng vào tiền. Một đảo ngược nham hiểm của tất cả các giá trị xảy ra. Kinh Thánh nói: " Cái gì cũng có thể, đối với người có lòng tin " (Mc 9:23), nhưng thế gian nói: "Có tiền mua tiên cũng được." Và trên một bình diện nhất định, mọi thứ dường như là như thế thật.
Kinh Thánh nói: "Lòng yêu mến tiền bạc là căn nguyên của mọi tội lỗi" (1 Tim 6:10). Đằng sau mọi sự dữ trong xã hội của chúng ta là tiền bạc, hay ít nhất cũng có dính líu đến tiền. Chúng ta nhớ lại trong Kinh Thánh câu chuyện các thanh niên nam nữ đã phải hy sinh cho thần Mo-lóc (x. Gr 32:35 ) hay câu chuyện thần Aztec mà hàng ngày một số lượng nhất định dân chúng bị giết để lấy tim dâng lên thần . Những gì nằm phía sau nạn buôn bán ma túy phá hủy rất nhiều cuộc sống của con người, đằng sau hiện tượng mafia, đằng sau việc tham nhũng của các chính trị gia, đằng sau việc sản xuất và bán các loại vũ khí, và thậm chí đằng sau một điều thật khủng khiếp - khi phải đề cập đến - là việc bán nội tạng con người lấy từ trẻ em? Và còn cuộc khủng hoảng tài chính mà thế giới đã và đang trải qua cũng như đất nước này vẫn còn đang gánh chịu, không phải phần lớn là do “sự ham hố tiền của đáng nguyền rủa” của một số người sao? Giuđa đã bắt đầu nhón khỏi ví chung cuả cả nhóm. Còn một số các quản trị viên công quỹ thì sao?
Tuy nhiên, bên cạnh những tội phạm hình sự để có tiền, còn có cả những xì căng đan trong đó một số người kiếm được tiền lương và hưu trí đôi khi cao hơn so với những người làm việc cho họ 100 lần và họ ồn ào phản đối khi một đề nghị được đưa ra để giảm tiền lương của họ ngõ hầu xã hội có thể công bằng hơn?
Trong những thập niên 1970 và 1980, tại Ý, để giải thích cho những thay đổi chính trị bất ngờ, những hành xử quyền lực bí ẩn, khủng bố, và tất cả các loại bí ẩn gây phiền hà cho cuộc sống dân sự, người ta bắt đầu đề cập đến ý tưởng bán thần thoại về sự tồn tại của một "Bố Già", một nhân vật quỷ quyệt và quyền thế là kẻ đứng sau hậu trường giật dây cho tất cả mọi chuyện để đạt đến những mục tiêu chỉ mình hắn ta biết mà thôi. “Bố Già” quyền uy ngất ngưởng này thực sự tồn tại và chẳng phải là một huyền thoại đâu. Tên hắn ta là tiền!
Giống như tất cả các ngẫu tượng khác, thần tài quỷ quyệt gian ngoa: nó hứa hẹn an ninh nhưng thay vào đó nó lấy đi; nó hứa hẹn tự do nhưng thực tế lại phá hủy tự do. Thánh Phanxicô Assisi , với một mức độ nghiêm khắc không thường thấy nơi ngài, đã mô tả giờ phút kết thúc cuộc đời của một người đã sống chỉ để làm tăng “vốn liếng” của mình. Khi gần chết ông ta mời linh mục đến. Vị linh mục hỏi người sắp chết, "Ông có muốn được tha thứ tất cả tội lỗi của ông không?" Và ông trả lời: "Thưa có." Linh mục hỏi tiếp: "Ông có sẵn sàng để sửa chữa những sai lầm ông đã gây ra, khôi phục lại những thứ ông đã lừa đảo của những người khác không? "người đàn ông sắp chết thều thào trả lời: "không, không thể được." "Tại sao lại không thể được?" "Bởi vì tôi đã giao phó mọi sự trong tay của người thân và bạn bè của tôi.". Như thế, ông ta chết đi mà không ăn năn hối cải, và trong khi thi hài ông bắt đầu lạnh dần người thân và bạn bè của ông tụ họp lại bên cạnh. Họ nói, "Thằng chết tiệt này! Lẽ ra nó nên kiếm nhiều tiền hơn để lại cho chúng ta mới phải chứ."
Bao nhiêu lần trong thời buổi này chúng ta lẽ ra phải suy nghĩ lại một lần nữa tiếng Chúa Giêsu kêu lên với người phú hộ trong dụ ngôn về người cứ lo thu tóm của cải bất tận và nghĩ rằng phần còn lại của cuộc đời mình sẽ được an toàn: "Đồ ngu! Nội đêm nay, mạng ngươi bị đòi lại, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? "(Lc 12:20)
Những người có quyền chức tham ô đến nỗi hết nhớ nổi ngân hàng nào, thiên đường tài chính nào tàng trữ bao nhiêu tiền tham nhũng của mình đã nhận ra bản thân mình đang bị xét xử tại tòa án hoặc tại một nhà tù đúng ngay vào lúc họ tự nhủ với lòng mình: "Yên tâm mà hưởng đi, hồn tôi ơi." Họ làm điều đó cho ai? Nó có đáng không? Phải chăng họ làm như thế vì lợi ích của con em và gia đình của họ, hoặc đảng phái của họ, nếu thực sự họ nghĩ như thế? Hay là chỉ hủy hoại bản thân và những người khác?
Sự phản bội của Giuđa vẫn tiếp tục xuyên suốt trong lịch sử, và người bị phản bội luôn luôn là Chúa Giêsu. Giuđa bán Đầu [ý chỉ Chúa Giêsu – chú thích của người dịch], trong khi những kẻ bắt chước ông bán phần thân mình, vì người nghèo là chi thể của nhiệm thể Chúa Kitô, cho dù họ biết điều đó hay không. "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy " (Mt 25:40 ) . Tuy nhiên , sự phản bội của Giuđa không chỉ tiếp tục trong phạm vi các nhân vật cao cấp các loại mà tôi vừa đề cập. Thật là an ủi cho chúng ta nếu được như thế, nhưng không phải vậy đâu. Bài giảng mà cha Primo Mazzolari vào Thứ Năm Tuần Thánh năm 1958, về "Anh Giuđa của chúng ta" vẫn còn rất nổi tiếng. Ngài nói với vài giáo dân ngồi trước mặt ngài, "Hãy để tôi suy nghĩ về cái tên Giuđa trong người tôi đây một lúc, về cái tên Giuđa, có lẽ cũng có cả bên trong anh chị em. "
Người ta có thể phản bội Chúa Giêsu để đổi lấy những thứ khác hơn là 30 đồng bạc. Một người đàn ông phản bội vợ mình, hoặc người vợ phản bội chồng, là phản bội Chúa Kitô. Các thừa tác viên của Chúa không trung thành với đấng bậc của mình trong cuộc sống, hoặc thay vì nuôi dưỡng những con chiên được giao phó cho ngài lại dùng những con chiên ấy như nguồn vỗ béo cho chính mình, là phản bội Chúa Giêsu. Bất cứ ai phản bội lương tâm của họ đều phản bội Chúa Giêsu. Thậm chí tôi có thể phản bội Ngài ngay lúc này đây- và điều này làm cho tôi run sợ - nếu như trong khi giảng về Giuđa tôi quan tâm đến sự đồng thuận của khán giả hơn là dự phần trong nỗi buồn bao la của Đấng Cứu Thế . Có một trường hợp giảm khinh trong trường hợp của Giuđa mà tôi không có. Ông ta không biết Chúa Giêsu là ai và chỉ coi Ngài là "một người công chính"; ông không biết rõ như chúng ta rằng Ngài là Con Thiên Chúa!
Mỗi năm khi Mùa Phục Sinh đến gần, tôi đều muốn nghe lại bản "Cuộc thương khó Chúa Kitô theo Thánh Matthêu" của Bach. Nó bao gồm một chi tiết khiến tôi rùng mình mỗi lần. “Ðang bữa ăn, Người nói: Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy” (Mt 26:21). Khi Chúa Giêsu thông báo như thế, tất cả các tông đồ đều hỏi Chúa Giêsu : "Có phải con không, thưa Thầy?" Trước khi chúng ta nghe câu trả lời của Chúa Kitô , nhà soạn nhạc - xóa đi khoảng cách giữa biến cố và việc tưởng niệm biến cố ấy - thêm vào một hợp xướng bắt đầu như thế này: "Đó là con; Con là kẻ phản bội! Con cần phải đền bù tội lỗi con." Giống như tất cả các hợp xướng thánh ca trong tác phẩm âm nhạc này, nó thể hiện tình cảm của những người đang lắng nghe. Nó cũng là một lời mời gọi chúng ta xưng thú tội lỗi mình.
Tin Mừng mô tả cái kết cục khủng khiếp của Giuđa: "Bấy giờ, Giuđa, kẻ nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận. Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục mà nói: "Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan". Nhưng họ đáp: ‘Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh!’ Giuđa ném số bạc vào Ðền Thờ rồi lui ra và đi thắt cổ" (Mt 27:3-5). Nhưng chúng ta không nên đưa ra một phán quyết vội vàng ở đây. Chúa Giêsu không bao giờ bỏ rơi Giuđa, và không ai biết, sau khi ông treo mình lên cây với một sợi dây thừng quanh cổ, ông ta sẽ đi về đâu: trong tay của Satan hay trong bàn tay của Thiên Chúa. Ai có thể biết được điều gì đã loé lên trong tâm hồn ông trong những giây phút cuối cùng này? “Bạn” là từ cuối cùng mà Chúa Giêsu gọi ông, và ông không thể quên được, cũng giống như ông không thể quên ánh mắt của Chúa Giêsu nhìn ông.
Đúng là khi nói chuyện với Chúa Cha về các môn đệ của Ngài, Chúa Giêsu đã nói về Giuđa, “không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng”(Ga 17:12) . Nhưng ở đây, như trong rất nhiều trường hợp khác, Ngài đang nói từ quan điểm của thời gian và không phải vĩnh hằng. Tầm cỡ của sự phản bội này tự mình đã đủ, không cần phải tính đến sự thất bại đó là vĩnh cửu để giải thích một bản án đáng sợ khác nói về Giuđa: “Ðã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!” (Mc 14 : 21). Số phận đời đời của một con người là một bí mật bất khả xâm phạm được gìn giữ bởi Thiên Chúa. Giáo Hội bảo đảm với chúng ta rằng một người nam hay một người nữ được công bố là một vị thánh đang được nếm hưởng niềm hạnh phúc vĩnh cửu, nhưng Giáo Hội không biết chắc chắn rằng một người cụ thể nào đó đã phải sa hoả ngục hay không.
Dante Alighieri, là một nhà thơ, là người đã đặt Giuđa trong tầng cuối cùng sâu nhất của địa ngục trong tác phẩm Divine Comedy của mình, đã kể về việc hoán cải vào giờ phút cuối cùng của Manfred, con trai Hoàng Đế Frederick II và là vua xứ Sicily, người mà tất cả mọi người vào thời điểm đó đều coi y là đáng nguyền rủa vì ông đã chết trong vạ tuyệt thông. Bị thương chí mạng trong một trận chiến, Manfred tâm sự với nhà thơ rằng vào thời điểm cuối cùng của cuộc đời mình, " ... trong than khóc, tôi đã phó linh hồn tôi cho Đấng đã sẵn sàng tha thứ" và ông đã gửi một tin nhắn từ Luyện Ngục về trái đất mà ngày nay vẫn còn có liên quan tới chúng ta:
Khủng khiếp là bản chất của tội lỗi tôi, nhưng lòng thương xót vô biên mở rộng vòng tay của mình cho bất kỳ người nào tìm kiếm nó.
Đây là điều mà câu chuyện về người anh em Giuđa của chúng ta nên khiến chúng ta phải làm: ấy là sấp mình trước Đấng sẵn lòng tha thứ cho chúng ta cách nhưng không, là ném mình tương tự như vậy vào cánh tay đang dang ra của Đấng chịu đóng đinh. Điều quan trọng nhất trong câu chuyện của Giuđa không phải là sự phản bội của ông ta nhưng là phản ứng của Chúa Giêsu đối với ông. Ngài biết rõ những gì đã phát triển trong trái tim người môn đệ mình, nhưng Ngài không phơi bày ra; Ngài muốn cho Giuđa cơ hội cho tới tận phút cuối cùng để quay trở lại, và gần như che chắn cho anh ta. Ngài biết lý do tại sao Giuđa đến vườn ô liu, nhưng Ngài không từ chối nụ hôn lạnh lùng của y và thậm chí còn gọi y là "bạn" (xem Mt 26:50 ). Ngài đã tìm ra Phêrô sau khi chối Chúa để tha thứ cho ông, vì vậy Ngài có thể đã tìm ra Giuđa tại chỗ nào đó trên đường lên núi Sọ! Khi Chúa Giêsu cầu nguyện từ trên thập giá: "Lạy Cha, xin tha cho chúng; vì chúng không biết việc chúng làm "(Lc 23:34) , Chúa chắc chắn không loại trừ Giuđa trong số những người mà Ngài cầu nguyện cho.
Vì vậy, những gì chúng ta sẽ làm là gì? Ai là người mà chúng ta nên noi theo, Giuđa hay Phêrô? Phêrô đã hối hận vì những gì ông đã làm, nhưng chẳng phải Giuđa cũng đã hối hận đến mức bật khóc sao? "Tôi đã phản bội máu người vô tội!" Và ông đã trả lại ba mươi đồng bạc. Vậy đâu là sự khác biệt? Chỉ là một điều này thôi: đó là Phêrô thì tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa Kitô, còn Giuđa thì không! Tội lỗi lớn nhất của Giuđa không phải là phản bội Chúa Kitô nhưng là đã nghi ngờ lòng thương xót vô biên của Ngài.
Nếu chúng ta đã bắt chước Giuđa ít nhiều trong sự phản bội của ông, chúng ta đừng bắt chước ông trong sự thiếu niềm tin vào sự tha thứ. Có một bí tích mà qua đó chúng ta có thể kinh nghiệm chắc chắn về lòng thương xót của Chúa Kitô: đó là bí tích hòa giải. Bí tích này tuyệt vời là ngần nào! Thật là ngọt ngào để cảm nghiệm về Chúa Giêsu là Thầy, là Chúa , nhưng thậm chí còn ngọt ngào hơn để cảm nghiệm Ngài là Đấng Cứu Thế, là Đấng lôi anh chị em ra khỏi vực thẳm, như Ngài đã kéo Phêrô khỏi chìm xuống biển, để cảm nghiệm Ngài là Đấng đã chạm vào anh chị em như Ngài đã làm với người bị bệnh phong, và nói với anh chị em, “Tôi muốn, anh sạch đi” (Mt 8:3).
Bí tích Hòa Giải cho chúng ta cảm nghiệm chính bản thân mình những gì Giáo Hội nói về tội lỗi của A Dong vào đêm Phục Sinh trong bài "Vinh Tụng Ca": "Ôi tội hồng phúc vì đã đem đến một Đấng Cứu Chuộc vĩ đại và vinh quang" Chúa Giêsu biết làm thế nào để lấy đi tất cả tội lỗi của chúng ta, khi chúng ta có lòng ăn năn, và làm cho những tội lỗi này thành "tội hồng phúc", những tội lỗi đó sẽ không còn được nhớ đến, chúng chỉ là dịp để chúng ta cảm nghiệm lòng thương xót và sự dịu dàng của Thiên Chúa.
Tôi có một mong muốn cho bản thân mình và cho tất cả những người cha, người anh, người chị, người em đáng kính: đó là cầu xin cho vào sáng Phục Sinh, chúng ta có thể thức giấc và để cho những lời của một người cải đạo vĩ đại trong thời hiện đại là Paul Claudel, vang vọng trong trái tim của chúng ta.
Thiên Chúa của con, con đã được hồi sinh, và con sống với Chúa một lần nữa!
Con đang mê ngủ, duỗi thẳng tứ chi như một người đã chết trong đêm. Chúa nói: " Hãy có ánh sáng!" Và con tỉnh dậy òa khóc!
Cha của con, Chúa là Đấng đã ban cho con cuộc sống trước lúc rạng đông, con đặt bản thân con trong sự hiện diện của Chúa.
Con tim con tự do và miệng của con sạch sẽ; cơ thể và tinh thần của con đang chay tịnh. Con đã được xá khỏi tất cả các tội lỗi của con, những tội con đã thú nhận từng tội một .
Chiếc nhẫn cưới trên ngón tay con và khuôn mặt của con được rửa sạch. Con giống như một con người vô tội trong ân sủng mà Ngài ban cho con.
Đây là những gì lễ Vượt Qua của Chúa Kitô có thể làm cho chúng ta.
Lm Raniero Cantalamessa
Bản dịch của J.B. Đặng Minh An
Bản quyền của SVCG nhóm Thánh Tâm - Huế. chi tiết xin liên hệ: sinhvienthanhtamhue@gmail.com. Cung cấp bởi Blogger.
| Copyright © 2013 SVCG Nhóm Thánh Tâm - Huế