CSC Online - Nhờ Hồng ân Thiên Chúa, Dòng Thánh Tâm Huế sẽ đón nhận 15 Tân Khấn Sinh và 14 Vĩnh Khấn Sinh. Trân trọng kính mời Quý Cha Bề trên, Quý Cha, Quý Thầy, Quý Soeur và Quý vị đến tham dự để tạ ơn Thiên Chúa, cùng cầu nguyện cho các Tân Khấn Sinh và Vĩnh Khấn Sinh
Tác giả bài viết: Dòng Thánh Tâm Huế

Theo nhận định ngày 3 tháng 7 của Église d’Asie, tổng giáo phận Huế đang là tâm điểm thời sự Việt Nam, sau khi một nhóm gồm 150 người tấn công Đan Viện Thiên An của Dòng Biển Đức ngày 28 tháng Sáu vừa qua. Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh, 67 tuổi, là Tổng Giám Mục của Huế từ ngày 29 tháng 10 năm ngoái và là chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam từ ngày 5 tháng 10 cùng năm. Nhân dịp tới Paris, ngài đã chấp nhận trả lời các câu hỏi của ban biên tập Église d’Asie.
Eglises d’Asie Thứ Tư, 28 tháng Sáu vừa rồi, một nhóm 150 người đã xâm nhập tài sản của đan viện Biển Đức Thiên An, tọa lạc cách Huế mấy kilômét, và đã phá hủy một tượng Chúa Kitô trên Thập Giá. Đây không phải là lần đầu tiên những bạo lực như thế đã diễn ra, các bạo lực này đã có trong khuôn khổ cuộc tranh chấp ruộng đất ngày xưa. Đức Cha có thể giải thích cho chúng con biết tình hình được không?
Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh : Trước đây, Đan Viện có một khu đất diện tích khoảng 107 mẫu tây. Nhưng Bộ Dân Luật Việt Nam không thừa nhận quyền tư hữu. Thành thử, các nhà cầm quyền không thừa nhận quyền sở hữu của đan viện đối với khu đất này.
Vụ tranh cãi này đã bắt đầu từ một thập niên qua; nó đã trở thành một cuộc tranh cãi thực sự. Các nhà cầm quyền đã ăn cắp tài sản của các đan sĩ, tức khu đất này, để bán cho các doanh nghiệp ngoại quốc, các doanh nghiệp du lịch [Chú thích của ban biên tập: các nhà cầm quyền chiếm 50 mẫu tây, để làm một công viên giải trí]. Và rồi, đây là cách họ làm thế: nhà cầm quyền muốn tạo thế dễ dàng cho việc đầu tư của các doanh nghiệp, cả địa phương lẫn ngoại quốc, nên đã bán các tài sản này đi. Họ chế giễu quyền lợi của các tổ chức tôn giáo, và, trong trường hợp này, các quyền lợi của Đan Viện.
Người Công Giáo của tổng giáo phận Huế là thiểu số và vẫn còn bị thương tích bởi các vụ tàn sát diễn ra trong cuộc Tấn Công Tết [Chú thích của ban biên tập: cuộc tấn công bất ngờ của các cán binh Bắc Việt nhân dịp Tết năm 1968; trong thành phố này, các trận chiến đặc biệt lâu dài, chúng kéo dài 28 ngày, và sát hại nhiều người], nên không ai dám lên tiếng. Người ta để các đan sĩ phải tự xoay xở lấy. Và nhà cầm quyền dân sự mặc tình muốn làm gì thì làm. Tôi đã viếng Đan Viện [ngày 16 tháng Sáu vừa qua], và các đan sĩ cho rằng tòa tổng giám mục nên nâng đỡ việc đòi lại đất đai của họ. Tôi đoán rằng các đan sĩ đã dựng lại cây thập giá [ngày 26 tháng Sáu, 2017], điều này đã gây ra một phản ứng, có tính bạo lực, về phía nhà cầm quyền [ngày 28 tháng Sáu]. Các ông biết đấy, ở xứ này, 77% các vụ tranh chấp liên quan tới đất đai.
HỏiCũng trong tuần này, một “blogger” Công Giáo Việt Pháp, Ông Phạm Minh Hoàng, đã bị tước mất quốc tịch và bị đuổi khỏi xứ sở. Ngày 29 tháng Sáu, một “blogger” Công Giáo, Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, thường được biết nhiều hơn dưới tên “Mẹ Nấm”, đã bị kết án 10 năm tù vì đã “tuyên truyền chống chính phủ Cộng Sản”. Cha Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, cha xứ Giáo Xứ Thái Hà, ở Hà Nội, một linh mục dấn thân, nhất là trong các vấn đề đất đai, đã bị cấm rời lãnh thổ, trong khi ngài có việc phải qua Úc. Tất cả những điều này gợi ý gì với Đức Cha?
Trả lời: Chế độ Cộng Sản luôn là một chế độ độc tài, nên các nhà cầm quyền có khuynh hướng đàn áp các tiếng nói đối lập. Các “bloggers” bị coi như những người khiêu khích, chuyên xúi giục các vụ nổi loạn.
Cha Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong đã bị trừng phạt vì tác phong chống cộng sản của ngài. Trong các bài nói của ngài, trong các bài giảng của ngài, ngài thường hay kết án các nhà cầm quyền. Điều này từ lâu khiến ngài ở trong sổ bị theo dõi của Công An. Thành thử đây không phải là lần đầu tiên. Nhiều người đối lập đã bị trừng phạt như thế để họ không nói xấu chế độ với người ngoại quốc.
HỏiCác linh mục tự động viên mình ủng hộ các người Việt Nam chịu ảnh hưởng của thảm họa môi trường do doanh nghiệp Formosa khiêu khích tạo ra đã bị biến thành đối tượng để đe dọa. Các cuộc biểu tình đã bị dẹp tan một cách dã man. Mới đây, ban biên tập của Église d’Asie đã gặp Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, người hướng dẫn một phái đoàn qua Âu Châu để mẫn cảm hóa dư luận quốc tế lấy thảm hoạ môi trường này làm chủ đề. Hội Đồng Giám Mục cũng đã lên tiếng công bố.Tình trạng môi trường có diễn biến ở Việt Nam không? 
Đáp: Không có gì đã thay đổi. Vì chính phủ luôn luôn sợ phải thừa nhận sự thật liên quan tới vụ tai tiếng Formosa. Nhưng từ trước đến nay, họ nhìn nhận rằng đây là một thảm họa và nhận định rằng Việt Nam chưa có đủ trải nghiệm để xử lý các vụ việc như thế. Xứ sở chưa có đủ chuyên viên, và đây là cái giá rất cao mà xứ sở phải trả.
Liên quan đến việc bồi thường, người ta luôn đương đầu với cùng một vấn đề tham nhũng. Số tiền không cao lắm, vì các thiên kiến sẵn có, và bị các nhà cầm quyền dân sự bác bỏ. Vả lại, theo tin đồn, chính người Trung Quốc đầu tư; người Đài Loan chỉ là những người cho muợn tên mà thôi.
Còn về Đức Cha Hợp, ngài đã làm phật lòng các nhà hữu trách của Phòng Tôn Giáo Sự Vụ rất mạnh. Những người này đã đề nghị “miễn chấp” (excuser) cho Đức Cha Hợp. Nghĩa là họ mong Tòa Thánh triệu Đức Cha Hợp về Rôma, hoặc gửi ngài đi nghỉ dưỡng.
Hội Đồng Giám Mục gần đây đã gửi “các nhận xét thành thực và thẳng thắn” của mình liên quan đến Đạo Luật về các tín ngưỡng và tôn giáo, ngày 1 tháng Sáu vừa qua, lên các nhà cầm quyền.
Nói một cách tổng quát, với đạo luật này, người ta thấy nhiều thụt lùi, chứ không phải tiến bộ; chúng tôi không luôn được hưởng sự tự do đích thực. Thí dụ, có nhiều lãnh vực trong đó Giáo Hội không có quyền dấn thân vào, như sức khỏe, giáo dục, v.v… Người ta vẫn chưa ra khỏi não trạng của hệ thống gọi là “xin cho” [Ghi chú của ban biên tập: kiểu nói này mô tả sự kiện: Giáo Hội tự thấy mình có nghĩa vụ phải xin phép đối với tất cả mọi việc mình làm, chế độ ở địa phương có ban phép ấy hay không là tùy ở họ].
Đấy là mối thất vọng, được các tôn giáo khác chia sẻ, mặc dù không công khai nói ra. Dù sao, các tôn giáo này cũng hỗ trợ Hội Đồng Giám Mục.
HỏiCòn về việc cử nhiệm các giám mục, từ trước đến nay, quý Đức Cha có được tự do không?
Đáp: Không, không hề có. Nhà Nước không có quyền đề cử một giám mục, nhưng họ có quyền từ chối một vụ bổ nhiệm. Khi một ứng viên được đề cử làm giám mục, họ cần sự chấp thuận của Nhà Nước. Trên thực tế, không có quá nhiều vấn đề liên quan đến việc bổ nhiệm tại các giáo phận ở tỉnh. Nhưng có vấn đề với việc bổ nhiệm giám mục ở ba tổng giáo phận Hà Nội, Huế và Sài Gòn.
HỏiNgày 29 tháng Sáu, Đức Cha đã ở Rôma.
Đáp: Mới đây, tôi được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Huế [ngày 29 tháng 10 năm ngoái]. Trong truyền thống của Giáo Hội Công Giáo, các tân Tổng Giám Mục tới Rôma để lãnh dây palium từ tay Đức Giáo Hoàng. Nghi lễ này diễn ra ngày 29 tháng Sáu, dịp Lễ Hai Thánh Phêrô và Phaolô. Ba mươi sáu Tổng Giám Mục đã nhận dây pallium năm nay.
Đối với tôi, đó là một niềm vui lớn. Một cách hết sức hữu hình, người ta cảm thức được sự hiệp thông của Giáo Hội hoàn vũ. Điều này gây ấn tượng hết sức. Và có nhiều khách mời: đại diện của các tôn giáo khác, hồi giáo, chính thống giáo, các nghi lễ đặc biệt, cả các nhà ngoại giao nữa, đủ các cấp, và cả các thủ tướng nữa. Bầu khí rất “hoàn cầu”. Tất cả đã được Đức Giáo Hoàng Phanxicô hoàn cầu hóa.
HỏiHôm trước đó, tức ngày 28 tháng Sáu, Đức Giáo Hoàng đã bổ nhiệm 5 vị Hồng Y, trong đó, có Đức Cha Louis-Marie Ling Mangkhanekhoun, giám mục Paksé, ở Lào. Một vài tháng sau khi 17 vị tử đạo của Lào được phong chân phúc. Một nguồn hân hoan?
Đáp: Tôi chia sẻ niềm vui của Giáo Hội Lào vì đây là các vị tử đạo đầu tiên được phong chân phúc. Tôi đã ở Vạn Tượng để dự lễ ấy vì, trong số các vị được phong chân phúc, có một linh mục của giáo phận cũ của tôi là Thánh Hóa, Cha Thoa Tien. Ngài vốn là thành viên của linh mục đoàn Thanh Hóa.
Ở Việt Nam, diễn trình phong chân phúc cho Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đang diễn tiến tốt đẹp.
Đức Hồng Y Thuận đã được nâng lên bậc đáng kính. Ngài là giám mục cũ của tôi ở Nha Trang, một đại biểu chân chính của Giáo Hội lúc ấy. Tôi hãnh diện về ngài và tôi cũng hãnh diện về sự thăng tiến thiêng liêng của ngài.
HỏiNăm 2018, Giáo Hội Việt Nam sẽ mừng 20 năm lễ phong chân phúc cho các vị tử đạo của mình. Qúy vị sẽ chuẩn bị việc này ra sao?
Đáp: Hiện nay, các cử hành đã được tổ chức, liên kết với việc các giám mục viếng mộ hai Thánh Phêrô và Phaolô (ad limina) ở Rôma hồi tháng Ba vừa rồi. Chắc chắn sẽ có những cuộc cử hành và buổi cầu nguyện lớn lao; người ta sẽ cố gắng làm nổi bật đời sống và tiểu sử các vị tử đạo. Các nghi lễ này sẽ luôn nhắm tới người trẻ.
Về người trẻ, Các Ngày Giới Trẻ Á Châu sẽ diễn ra tại Nam Dương vào mùa hè này.
Đối với người trẻ Việt Nam, có vấn đề lớn về ngôn ngữ vì đa số không hiểu tiếng Anh hay tiếng Pháp. Nhưng Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Viên, giám mục phụ tá của Vinh, người chịu trách nhiệm mục vụ giới trẻ, đang tổ chức một nhóm người Việt tham dự Các Ngày Giới Trẻ nói trên.
HỏiMiến Điện và Tòa Thánh đã chính thức thiết lập các liên hệ ngoại giao nhân cuộc gặp gỡ ở Vatican giữa Tòa Thánh và Aung San Suu Kyi, Cố Vấn Nhà Nước Miến Điện, ngày 4 tháng 5 vừa qua. Liệu việc này có một tác động nào đối với sự hiện diện của vị đại diện không thường trực của Tòa Thánh tại Việt Nam không?
Đáp: Cho tới nay, người ta có thể nói chúng tôi khá thất vọng: chúng tôi vốn mong đợi nhiều ở giây phút trong đó Việt Nam sẽ tạo được các liên hệ ngoại giao với Tòa Thánh ở cấp sứ thần. Nhưng vị đại diện của Tòa Thánh ở Việt Nam, Đức Cha Leopoldo Girelli, không luôn được quyền cư ngụ thường trực ở Việt Nam. Ngài luôn là “đại diện không thường trú của Tòa Thánh ở Việt Nam”; ngài ở Tân Gia Ba và chỉ có quyền ở Việt Nam một tháng rồi phải rời xứ sở.
Mọi di chuyển của ngài ở Việt Nam phải được chấp thuận, được bộ ngoại giao của Việt Nam cho phép. Sự trông chờ của chúng tôi có chừng mực, nhưng chính phủ không dám tiến tới nếu không có sự bảo lãnh của các nhà cầm quyền Trung Hoa. Trong lúc tình thế bị trở ngại, người ta luôn kiếm cớ để khước từ sự hiện diện thường trực của Đức Cha Girelli ở Việt Nam.
HỏiTừ ngày 5 tháng 10 năm 2016, Đức Cha là chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Hôm trước ngày Đức Cha được bầu, Nguyễn Thiện Nhân, chủ tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Yêu Nước, và là thành viên của cấp chính trị cao nhất của Đảng, tức Bộ Chính Trị, đã tới chào thăm Đức Cha. Đức Cha có những mối liên hệ nào với các nhà cầm quyền trung ương?
Đáp: Cuộc viếng thăm của Nguyễn Thiện Nhân diễn ra dưới sự chủ tọa của Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Tổng Giám Mục Sài Gòn. Tôi không biết có phải ngài mời ông ấy hay đó là sáng kiến của Nguyễn Thiện Nhân. Nhưng các cuộc viếng thăm này không được chào đón trong khuôn khổ hội đồng giám mục.
Tôi không dấu giếm điều gì, tôi phát biểu điều tôi suy nghĩ. Chúng tôi ít dè dặt hơn trước. Chúng tôi được tự do hơn. Và các thế hệ trẻ, thành viên của Đảng, thành viên của chính phủ, được thông tri nhiều hơn trước, cởi mở hơn. Họ ra khỏi xứ sở và có cơ hội quan sát cách xử lý các vụ việc tôn giáo ở các nước khác. Các não trạng, cách suy nghĩ đã diễn biến, thay đổi.
HỏiGiáo Hội ở Việt Nam xử sự ra sao?
Đáp: Tôi lạc quan vì, sau một thời kỳ lâu dài chung sống, các thành phần xã hội đã tìm cách xích lại gần nhau. Người Cộng Sản và Người Công Giáo hiểu nhau tốt hơn trước khá nhiều.
Người Công Giáo ngày càng ít bị ngờ vực hơn. Trước đây, người ta quá bị điều khiển bởi điều tuyên truyền dạy. Từ nay, người ta có khả thể quan sát bằng chính mắt mình, và họ đã khám phá ra rằng người Công Giáo không xấu như trước đây người ta vốn nghĩ. Và rồi, việc làm chứng của người Công Giáo trở nên mỗi ngày một tích cực hơn. Thù ghét và oán hận đã giảm đi. Các liên hệ ngày càng thân ái hơn.
Phải can đảm lắm mới vượt qua được giai đoạn đó. Phải kiên nhẫn, người ta không thể thay đổi được xứ sở trong 5 phút.
Hỏi: Đức Cha có thể cho chúng con biết thêm về Học Viện Công Giáo Việt Nam không?
Đáp: Nó đã được khai giảng ngày 14 tháng 9 năm ngoái, các kỳ thi tuyển cho khóa học mới đã diễn ra trong các ngày 7 và 8 tháng Sáu vừa rồi.
Đức Cha Đinh Đức Đạo, của giáo phận Xuân Lộc, là viện trưởng của học viện Công Giáo này. Chúng tôi có nhiều hy vọng nhưng, vào lúc này, chúng tôi chưa thành công tạo được nơi chốn: chưa có đất, nên phải thuê một ngôi trường và bắt đầu với một lớp duy nhất. Chúng tôi cũng chưa có đủ các giáo sư chuyên môn, và các sinh viên chưa đạt trình độ mong muốn. Cần chờ đợi thêm một chút, với thời gian, mọi sự sẽ tốt hơn thôi.
Trước khi người Cộng Sản nắm quyền [năm 1975], chúng tôi vốn có hai đại học Công Giáo [ở Đà Lạt và ở Sài Gòn]. Tất cả đã bị người Cộng Sản cấm, đóng cửa; các chủng viện và các đại học bị trưng dụng. Nên đây không phải là một điều mới mẻ gì, chỉ là việc phục hồi điều chúng tôi đã mất trong mấy chục năm qua mà thôi.
Hỏi: Còn ơn gọi, cả linh mục lẫn đời sống tu trì, thì sao? 
Đáp: Các ơn gọi này hiện khá dư dật tại Việt Nam. Bất kể trong các chủng viện hay trong các hội dòng. Người ta đã nhận được một chút tự do nào đó trong việc tổ chức sinh hoạt của các trung tâm đào tạo. Trước đây, người ta áp dụng một thứ chính trị chỉ tiêu (quota): để gửi một người trẻ vào chủng viện, cần phải có sự chuẩn y của Nhà Nước. Mỗi giáo phận có quyền gửi sáu hoặc tám ứng viên, mỗi hai năm. Thứ chính trị này vẫn còn trên lý thuyết nhưng không bị áp dụng nữa.
Trước đây, người ta cũng không có quyền gửi các linh mục hay các nữ tu ra nước ngoài để được đào tạo thành các nhà đào tạo; nay, người ta có thể xuất ngoại khá dễ dàng. Đó chính là niềm hy vọng của chúng tôi. Ước mong những người từ ngoại quốc trở về sẽ trở về để làm việc trong các trung tâm đào tạo của chúng tôi và dần dần, từng chút một, cải thiện phẩm chất của việc đào tạo này.
Hỏi: Còn về vị trí của giáo dân trong lòng cộng đồng Công Giáo?
Đáp: Nói chung, việc tham gia của các giáo dân rất được các mục tử đánh giá cao. Đặc biệt khi họ dấn thân không điều kiện, nhất là tại các giáo xứ miền quê. Họ làm việc dễ dàng và không công, hoàn toàn tự nguyện. Thậm chí, đôi khi, còn có quá nhiều thiện nguyện viên. Mọi người đều khả dụng. Đó là cảm thức của Giáo Hội ở Việt Nam. Bản thân tôi, tôi đánh giá cao việc tham dự của các giáo dân.
Điều chúng tôi chưa có thể làm được là đào tạo các giáo dân; các điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo họ vẫn chưa thu thập được. Đây là điều chúng tôi phải tiến tới chỗ làm được trong tương lai.
Hỏi: Ngày 20 tháng 12 tới, Đức Cha sẽ cử hành 25 năm thụ phong linh mục. Trong 25 năm này, nhiều điều đã thay đổi ở Việt Nam.
Đáp: Vâng, nhiều điều đã thay đổi, trong một chiều hướng nhất định tích cực, về mọi phương diện. Đối với tôi, điều này rất có ý nghĩa, vì Chúa Quan Phòng đã dẫn dắt chúng tôi, đã giúp đỡ chúng tôi vượt qua mọi khó khăn của Lịch Sử, vượt thắng mọi điều bất tiện mà thế hệ chúng tôi từng biết.
Hai mươi lăm năm linh mục, đây là một dịp tạ ơn Thiên Chúa cho Giáo Hội nói chung và cho chính bản thân tôi. Tôi đã phải chờ đợi chức linh mục trong 16 năm trời. Tôi chỉ được thụ phong linh mục ở tuổi 42. Tuổi ấy quá già đối với một linh mục ở Việt Nam! Thông thường, người ta được thụ phong ở tuổi 27, 28 hay 29, cùng lắm thì 30 là tối đa. Tôi, tôi đã phải chờ đợi quá lâu. Khi được thụ phong, tôi hoàn toàn thỏa mãn, điều này quá đủ đối với tôi. Tôi chỉ chờ đợi có thế. Tôi không bao giờ dám nghĩ tới một đoạn đường xa hơn; thời gian qua đi thật nhanh, đã tới lễ cưới bạc rồi. Quả tình là một lễ cưới, tôi hết sức hân hoan.
Vũ Văn An – Vietcatholic

(Nguồn: Eglises d’Asie, 3 tháng Bẩy năm 2017)
Nhân ngày lễ thánh Phêrô và Phaolô thiết tưởng sẽ không thừa khi nhắc đến một số các di tích tại Roma có liên quan đến cái chết và ngôi mộ của thánh Phaolô - người chưa từng gặp Chúa Giêsu khi còn sống nhưng đã mạnh dạn rao giảng và dùng cái chết để minh chứng về Ngài.

Vào năm 64, dưới thời hoàng đế Nero, một trận hỏa hoạn đã thiêu rụi hầu như toàn bộ thành Rome. Tin đồn cho là chính Nero ra lệnh phóng hỏa để ông xây dựng một thành phố khác tráng lệ huy hoàng hơn. Để xoa dịu dân chúng, ông đã qui tội cho những người theo Chúa Giêsu đốt thành Rome và từ đó cuộc bách hại trở nên khốc liệt. Trong bối cảnh trên, thánh Phaolô lúc đó đang bị canh giử ở Rome, bị chém đầu vào khoảng năm 67 tại Aquae Salviae.

I. Nhà Thờ St Paul at the Three Fountains

Ngày nay nơi thánh nhân chịu tử đạo là nhà thờ St Paul at the Three Fountains (Thánh Phaolô Ba Dòng Suối), nằm trong khuôn viên Tu viện Ba Dòng Suối (Tre Fontane Abbey).
Đường vào Tu Viện Tre Fontane có tượng thánh Benedict
Đường vào nhà thờ St Paul at the Three Fountains
Nhà thờ được xây dựng vào thế kỷ V và tái thiết vào năm 1599
Tấm bảng trên cửa nhà thờ có ghi SPauli apostoli martyrii locus ubi tres fontes mirabiliter eruperunt có nghĩa là nơi thánh Phaolô tử đạo có ba dòng suối phát sinh.

Theo truyền thuyết được thánh Gregorio Cả chấp nhận, thủ cấp thánh Phaolô sau khi bị chém lìa đã nẩy lên 3 lần trên mặt đất và nơi đó phát sinh 3 dòng suối nhưng vào năm 1950 đã bị lấp vì gây ô nhiểm. Trong hình dưới đây trụ cột nơi thánh Phaolô bị chém đầu được rào quanh bằng khung sắt. Bên trái là nơi dòng suối phát sinh khi thủ cấp rời khỏi cổ.

Trụ cột nơi hành quyết thánh Phaolô
Nơi phát sinh dòng suối

II. Đền Thánh Phaolô Ngoại Thành

Sau khi thánh Phaolô chịu tử đạo, các môn đệ an táng thánh nhân và dựng nên một đài tưởng niệm tại ngôi mộ này, cách nơi hành quyết khoảng 3 km.
Năm 324 hoàng đế Constantine cho xây một ngôi thánh đường thế vào đài tưởng niệm và ĐGH Sylvester thánh hiến năm 324. Thánh đường được gọi là "ngoại thành" vì tọa lạc ở ngoài tường thành do hoàng đế Aureliano xây cất và năm 271 để chống lại các cuộc tấn công từ các sắc dân man di.
Năm 386 hoàng đế Theodosius I cho củng cố và xây rộng thêm. Sau đó các ĐGH không ngừng cho chăm sóc và tu bổ.
Đến năm 1823 một trận hỏa hoạn đã phá hủy hầu như toàn bộ ngôi thánh đường và các di tích vốn đã tồn tại suốt 15 thế kỷ từ thời sơ khai.
Ngôi thánh đường chúng ta thấy ngày hôm nay được xây dựng lại vào năm 1840 và được Đức Giáo Hoàng Pio IX thánh hiến vào năm 1855.
Ðền Thờ dài 136 mét, rộng 65 mét, và cao 29.7 mét. Thánh đường có 5 gian. Phía trước có một sân vuông.

Toàn bộ khuôn viên Đền Thánh Phaolô Ngoại Thành (hình Google)
150 cột đá nguyên khối bao bọc khu sân vuông bên ngoài
Chi tiết mặt tiền nhà thờ - Phía trên Chúa Giêsu ngự giửa hai thánh Phêrô và Phaolô; Chính giửa, Con Chiên tượng trưng cho Chúa Giêsu ở trên 4 dòng suối 4 thánh sử và 12 con chiên chung quanh là 12 thánh Tông đồ. Phía dưới là 4 tiên tri thời Cựu Ước: Isaiah, Jeremiah, Ezekiel và Daniel.
Tượng thánh Phaolô bên ngoài khu sân vuông
Bên trong nhà thờ chia làm 5 gian do 4 hàng cột cẩm thạch - mỗi hàng có 20 cột.
.
Trên các hàng cột có chân dung 265 vị Giáo Hoàng,
từ thánh Phêrô
đến Ðức Benedictô XVI gần đây nhất.
Phía trên cung thánh có bức tranh Chúa Kitô đang ngồi trên ngai,
có thánh Phêrô và Anrê ở bên phải, thánh Phaolô và Luca ở bên trái.
Trần nhà thờ nhìn về phía cung thánh.
Toàn bộ trần nhà thờ
Bàn thờ phụ bên phải
Bàn thờ phụ bên trái
Mộ thánh Phaolô được đặt dưới bàn thờ phụ ngay giửa nhà thờ trước khi rẻ vào nhánh phải và nhánh trái.
Lối vào mộ thánh Phaolô
Mộ thánh Phaolô
Truyền thống xưa tin rằng đây là sợi dây xích đã xích chung thánh Phaolô và người lính canh giử ngài tại Roma.
Bàn thờ, dây xích và mộ thánh Phaolô.
Mộ thánh Phaolô được khai quật năm 2006 và các xét nghiệm khoa học kết luận rằng xác trong quan tài là một người đã sống vào thế kỷ I - trùng hợp với niềm tin của giáo hội thánh Phaolô chịu tử đạo vào khoảng năm 65-67.
Tưởng cũng nên nhắc lại rằng thánh Phaolô là người đã đi bách hại những người tin theo Chúa Giêsu nhưng sau này được biến đổi thành người đi rao giảng về Chúa Giêsu và trở nên người bị bách hại.

Cú ngã lần đầu tiên trên đường Damascus đã thêm cho giáo hội một người rao giảng nhiệt thành. Cú ngã lần thứ hai đầu lìa khỏi cổ tại Aquae Salviae đã minh chứng lòng yêu mến mãnh liệt với Chúa Kytô. Lòng yêu mến mà thánh nhân đã định nghĩa "Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được." (ICr 13, 4-8)

Hien Quang - Lễ thánh Phêrô và Phaolô năm 2013

Hỏi: Nhân lễ Chúa Hiện Xuống, Xin cha giải thích rõ tại sao tội phạm đến Chúa Thánh Thần thì không được tha thứ?

Trả lời: 
Trong Tin Mừng Thánh Maccô, Chúa Giêsu nói: “Thầy bảo thật anh  em: mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời.” (Mc 3,28-29)

 

Chua thanh than

Chúa đã nói các lời trên với các môn đệ, sau khi các kinh sư Do Thái nói rằng : “ Người ( Chúa Giêsu) bị quỷ vương Belzebul ám và Người đã dựa vào thế quỷ vương mà trừ quỷ.” ( Mt 3;22)

 Chúng ta phải hiểu thế nào về lời  dạy trên đây của Chúa Giêsu?

Trước hết, chúng ta cần nhớ là những lời Chúa Giêsu đã nói với các Tồng Đồ về Chúa Thánh Thần như sau: “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh  em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh  em. Khi Người đến, Người  sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và về việc xét xử.” (Ga 16: 7-8) 

Đấng Bảo Trợ (the Paraclete) mà Chúa Giêsu nói đây chính là Chúa Thánh Thần. Ngài là Thần Chân Lý (the Spirit of Truth) là Thần Khí của Thiên Chúa (the Spirit of God) là Đấng  được sai đến để “dẫn anh  em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16, 13) một sự thật hay chân lý mà các Tông Đồ không  thể hiểu thấu nếu không có ơn soi sáng  trợ giúp của Thần Khí Chúa là Chúa Thánh Thần, tức Ngôi Ba Thiên Chúa.

Vì thế, sau khi sống lại từ cõi chết, Chúa Giêsu đã hiện ra với  các Tông Đồ, thở hơi vào các ông và nói: “Anh  em hãy nhận lấy Thánh Thần.” (Ga 20: 22). Chúa ban Thánh Thần cho các Môn đệ để giúp họ thấu hiểu những điều Người đã dạy bảo họ trong 3 năm sống chung và đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, trước khi Người thọ nạn thập giá , chết, sống lại và lên Trời.

 

a

Khi lãnh nhận bí tich rửa tội, qua việc xức dầu thánh, chúng ta đã lãnh nhận một phần ơn Chúa Thánh Thần. Với  bí tích Thêm Sức, ta được ban đầy đủ ơn của Chúa Thánh Thần, như ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết,  lòng mến, sức mạnh… để kiện toàn ơn tái sinh của phép rửa và để “cho ta có sức mạnh đặc biệt hầu loan truyền và bảo vệ đức tin bằng lời nói và việc làm với  tư cách là những  nhân chứng đích thực của Chúa Kitô, nghĩa là để  tuyên xưng danh Chúa một cách can trường  và không bao giờ hổ thẹn về Thập Giá của Người.” (Sách Giáo Lý Công Giáo (SGLGHCG), số 2044)

Như thế, thật cần thiết biết bao cho ta được lãnh nhận những ơn quí báu của Chúa Thánh Thần để sống đức tin mạnh mẽ, đức cậy vững vàng và đức mến nồng  nàn hầu trở nên nhân chứng  đích thực và sống động  của Chúa Kitô trong trần thế này.

Thật vậy,  Giáo Hội không thể lớn lên trong sự thánh thiện và khôn ngoan, cũng như không thể chu toàn được sứ mệnh mà Chúa Kitô đã  trao phó trước khi Chúa về trời,  nếu không có sự phù giúp vô cùng  hữu hiệu của Chúa Thánh Thần.Vì thế, Giáo Hội luôn cầu xin ơn Thánh Linh trước khi làm bất cứ việc lớn nhỏ nào. Và phong trào, đoàn thể  nào có mục đích xin ơn Chúa Thánh Thần để canh tân đời sống thiêng liêng, thêm yêu mến Chúa Kitô và ơn cứu độ của Người thì đều được Giáo Hội khuyến khích, nâng đỡ.

Tuy nhiên, ai mượn danh Chúa Thánh Linh để làm trò “ảo thuật” như đặt tay và xô cho người ta té ngã và nói ú ớ những gì không ai hiểu được thì đó chắc chắn không phải là ơn của Chúa Thánh Thần.Ai tiếp tục làm trò này cần chấm dứt để không mê hoặc giáo dân về ơn Chúa Thánh Thần. Không có giáo lý, tín lý nào dạy rằng Chúa Thánh Thần đến với ai thì người đó phải bị “té ngã” và miệng nói lảm nhảm những gì không ai hiểu được, kể cả người được té ngã đó.

 

Chúa Thánh Thần

Ơn của Chúa Thánh Thần phải là lòng sốt mến, để thêm yêu mến Thiên Chúa hơn, lòng can đảm để làm chứng tá cho Chúa Kitô trước mặt người đời, và sức manh để chiến thắng ma quỷ và những gương xấu của thế gian. Hoa trái của ơn Thánh Linh phải là sự bình an, vui sướng  nội tâm,  lòng sốt mến, yêu mến và kính sợ Chúa hơn cũng như  thêm chê ghét tội lỗi và mọi sự dữ trong trần gian này.

Chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần mà người tín hữu chúng ta được lớn lên  mạnh mẽ trong đức tin, được hiểu rõ hơn về những chân lý mà  Chúa Giêsu đã giảng dạy.và được ý thức đầy đủ về nguy hại của tội lỗi, là cản trở duy  nhất cho ta sống tình thân với Chúa và có hy vọng được cứu rỗi. Lại nữa, cũng nhờ Chúa Thánh Linh mà ta  được thúc dục tin tưởng vào lòng thương xót, tha thứ của Thiên Chúa, được an ủi khi gặp gian nan thử thách và nhất là được tăng thêm  lòng yêu mến  Chúa trên hết mọi sự phù phiếm ở trần gian này

. Đó  là đại cương những việc Chúa Thánh Thần đã và đang làm trong tâm hồn mọi tín hữu Chúa Kitô và trong Giáo Hội của Chúa từ thời sơ khai cho đến ngày nay và còn mãi mãi về sau cho đến ngày  hết thời gian.

Tóm lại Giáo Hội nói chung và người tín hữu chúng ta nói riêng, đều rất cần ơn Chúa Thánh Linh để  sống và tuyên xưng đức tin và mời gọi thêm nhiều người khác nhận biết và tin Chúa Kitô, là Đấng duy nhất cứu chuộc loài người qua Hy Tế thập giá.

Như vậy,  tội phạm đến Chúa Thánh Thần là tội mang nội dụng sau đây:

- Hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa là Cha nhân lành giầu lòng xót thương và tha thứ.
- Từ khước ơn cứu chuộc của Chúa Kitô.
- Phủ nhận Chân Lý mà Thần Khí Chúa đã mặc khải cho con người.
- Không còn nhìn nhận tội lổi đã phạm để xin  được tha thứ.

 

chua thanh than

Tội nào cũng có thể được tha thứ nếu người ta còn tin tưởng vào lòng xót thương của Thiên Chúa. Vậy, nếu  nhờ Thần Khí Chúa mà ta nhận biết Người  là Cha nhân lành để chậy đến xin tha thứ mọi lỗi phạm vì yếu đuối,  vì lầm lạc, thì điều kiện để được tha thứ là phải nhìn nhận  tội lỗi của mình và còn  tin tưởng nơi  lòng thương xót, thứ tha của Chúa.

Ngược lại,  nếu chối từ Thiên Chúa, thất vọng hoàn toàn về tình thương tha thứ của Người cũng như  không còn tin  và yêu mến Người  nữa,   là xúc  phạm nặng nề  đến chính Chúa Thánh Thần là Đấng đã giúp  ta nhận biết Thiên Chúa là Cha nhân hậu, nhận biết công trình cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, cũng như giúp ta nhìn  nhận  tội lỗi đã phạm.. Chúa Thánh Thần  cũng là Đấng  đã nung  lửa yêu mến Thiên Chúa trong lòng mọi tín hữu.  Do dó, xúc phạm đến  Chúa Thánh Thần là bác  bỏ mọi công việc Người  đã làm trong linh hồn  mỗi người  chúng ta và trong Giáo Hội của Chúa Kitô.

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã dạy: “Ai nói phạm đến Con Người (tức Chúa Giêsu) thì được tha, nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau.” (Mt 12: 32)

Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, nay là Thánh, , trong Tông Thư   “Dominum et Vivificantem” cũng nói  như sau về tội phạm đến Chúa Thánh Thần:

 “Tội phạm đến Chúa Thánh Thần không phải chỉ đơn thuần xúc phạm đến Người bằng lời nói  mà hệ tại sự chối từ nhận lãnh ơn cứu chuộc mà Thiên Chúa ban cho con người qua Chúa Thánh Thần hoạt động qua quyền lực của Cây Thập Giá.” (.ibid. no.46.3)

***

a

Tóm lại, tội phạm đến Chúa Thánh Thần không thể tha thứ được vì kẻ xúc phạm đã hoàn toàn khước từ Thiên Chúa và tình thương tha thứ của Người.

Nếu  đã hoàn toàn thất vọng  và không còn tin Chúa để chậy đến xin Người tha thứ tội lỗi thì làm sao thứ tha được nữa?

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đắt ra.
 
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Cách thị trấn miền biển Kusadasi (Thổ Nhĩ Kỳ) trên bờ tây của biển Aegea khoảng 27 km là một địa điểm linh thiêng trong các chuyến hành hương của cả tín hữu Công giáo lẫn Hồi giáo.
Nơi đây tọa lạc Meryem Ana Evi, tức “Ngôi nhà của Đức Mẹ Maria Đồng Trinh”, trên núi Koressos thuộc vùng Ephesus. Tương truyền, Đức Mẹ Maria đã được Thánh sử Gioan đưa đến cư ngụ tại ngôi nhà bằng đá này cho đến ngày Đức Mẹ lên trời.
Ngôi nhà của sự nhiệm mầu
Ngôi nhà khiêm tốn có cấu trúc toàn bằng đá, được xây dựng theo kiến trúc La Mã thời xưa, và hiện đã trở thành nhà nguyện nhỏ. Các nhà khảo cổ học giám định nơi này cho rằng hầu hết cấu trúc có niên đại từ thế kỷ VI hoặc VII, trong khi nền tảng của nó có thể còn xa hơn gấp nhiều lần, và có lẽ có niên đại từ thế kỷ thứ nhất, tức vào thời Đức Mẹ Maria còn tại thế. Theo thời gian, phần còn lại của ngôi nhà được người đời sau bổ sung, như các cảnh quan sân vườn và kiến trúc phía ngoài.
Vào mùa hè trong năm, những hàng người dài dằng dặc nối đuôi nhau đến đỉnh Koressos, chờ đợi đến lượt mình tiến vào nhà nguyện nổi tiếng. Khi bước vào, người hành hương sẽ thấy trước mặt là hai hàng ghế hai bên, nơi bạn có thể quỳ xuống và cầu nguyện. Một số người lại chọn quỳ trước bàn thờ. Trên bàn thờ có đặt một bức tượng nhỏ của Đức Mẹ Đồng Trinh, xung quanh là những đóa hoa đầy màu sắc. Thông thường, không được phép chụp ảnh bên trong nhà nguyện, trừ trường hợp đặc biệt như các chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng. Bên ngoài ngôi nhà có một “bức tường ước nguyện”, trên đó treo đầy những tờ giấy hoặc mảnh vải ghi lại những mong ước chân thành của người hành hương đến nơi này. Một đài phun nước gần đó được kể rằng có thể chữa lành bệnh tật hoặc mang lại khả năng làm mẹ cho phụ nữ.
Bức tường ước nguyện
Sự phát hiện kỳ diệu
Theo sách của tác giả người Đức Clemens Brentano (1778-1842), ngôi nhà này được phát hiện vào thế kỷ 19 theo sự mô tả trong thị kiến của Chân phước Anne Catherine Emmerich (1774-1824), nữ tu dòng thánh Augustinô ở Đức. Chân phước Emmerich từ năm 1802 cho đến khi qua đời đã mang trên người các vết thương của mão gai, và từ năm 1812, có hẳn dấu thánh trên ngực và một vết thương tương đồng với vết giáo đâm. Nhà văn Brentano, đã gặp nữ tu vào năm 1818 và túc trực bên cạnh cho đến khi bà mất vào năm 1824, ghi chép lại các thị kiến về những ngày cuối đời của Chúa Giêsu, cũng như chi tiết về cuộc đời Đức Mẹ Maria và chuyến di cư của Mẹ tới Ephesus từ khoảng 2.000 năm trước.
Nhờ vào một trong những thị kiến được ghi lại, linh mục người Pháp tên Julien Gouyet vào năm 1881 đã tìm đến ngôi nhà của Đức Mẹ Maria Đồng Trinh. Theo Wikipedia, Chân phước Emmerich từng mô tả ngôi nhà là do thánh Gioan Tông đồ đã xây dựng ở Ephesus cho Đức Maria, nơi mà Mẹ đã cư ngụ cho tới khi về với Chúa. “Đức Maria không cư ngụ ở Ephesus, nhưng ở một nơi gần đó... Nhà Đức Maria ở trên một ngọn đồi phía bên trái con đường hướng đến Jerusalem, cách Ephesus khoảng 3 giờ rưỡi. Ngọn đồi này dốc đứng về phía Ephesus.... Những đường đi bộ hẹp dẫn về phía nam tới ngọn đồi gần đỉnh của nó là một cao nguyên không bằng phẳng, đi mất khoảng nửa giờ”.
Chân phước Emmerich cũng mô tả các chi tiết khác của ngôi nhà, chẳng hạn như được xây bằng những viên đá hình chữ nhật, các cửa sổ đặt cao lên gần mái nhà bằng phẳng và ngôi nhà gồm 2 phần với nền bếp lò ở giữa ngôi nhà. Ngài còn tả thêm vị trí của các cửa ra vào, hình dạng của ống khói ... Cuốn sách liệt kê các chi tiết trên có tựa đề “The Life of the Blessed Virgin”, được xuất bản năm 1852 ở München, Đức.
Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI viếng thăm ngôi nhà
Các chuyến thăm của nhiều Giáo Hoàng
Giáo hội Công giáo chưa hề công nhận hoặc bác bỏ tính xác thực của ngôi nhà vì thiếu chứng cứ khoa học cụ thể. Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, vào năm 1896, đã làm phép cho đoàn hành hương đầu tiên đến viếng nơi này, chứng tỏ quan điểm tích cực của Giáo hội đối với ngôi nhà lịch sử tại Ephesus. Bản thân ngài cũng đích thân viếng thăm ngôi nhà. Đến thời Đức Giáo Hoàng Piô XII, vào năm 1951, dựa trên tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, đã gọi ngôi nhà của Đức Mẹ Maria Đồng Trinh là thánh địa, và Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII sau đó đã xác thực vĩnh viễn sự công nhận đó cho nơi này.
Liên tiếp nhiều Giáo Hoàng đã đến thăm địa điểm thánh thiêng của Đức Mẹ. Chân phước Phaolô VI đã tới viếng ngày 26.7.1967, sau đó là Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ngày 30.11.1979, còn Đức Bênêđictô XVI cũng theo bước những người tiền nhiệm khi đến nơi này ngày 29.11.2006 nhân chuyến tông du 4 ngày ở Thổ Nhĩ Kỳ. 
Manh mối từ Kinh Thánh
Thánh sử Gioan viết lại, Chúa Giêsu trước khi chịu khổ hình trên thập giá đã tin tưởng nhờ cậy ngài chăm sóc mẹ mình. “Đây là mẹ của con”, và kể từ giây phút đó, thánh Gioan đã xem Đức Maria như mẹ ruột. Sách Công vụ tông đồ sau đó đã ghi lại số phận của các thánh tông đồ sau khi Chúa Giêsu qua đời. Thánh Stêphanô bị ném đá đến chết vào năm 37. Thánh Giacôbê bị chặt đầu vào năm 42. Và những vị thánh tông đồ khác bắt đầu việc rao giảng Lời Chúa. Thánh Gioan truyền giáo tại Tiểu Á, và ngài đã đưa Đức Maria theo để bảo vệ.
LING LANG
La Vang đã trở thành thánh địa hành hương quan trọng nhất của người Công giáo Việt Nam, mỗi năm có hàng triệu người về hành hương kính Đức Mẹ ở nơi linh thiêng này. Thánh địa La Vang nằm ở xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị thuộc về Tổng Giáo phận Huế. Từ năm 1961, Nhà thờ La Vang đã được tôn phong là Vương cung Thánh đường.
Công trình La Vang đang dần được thành hình
Công trình La Vang đang dần được thành hình

Đây là địa danh luôn gợi lên nơi tâm hồn tín hữu Việt Nam tâm tình mến yêu, tin tưởng và phó thác nơi Đức Mẹ. Ngày 13/04/1961, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã chọn La Vang làm Trung tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc.
 

Nhưng theo thời gian và nhất là bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, Vương cung Thánh đường La Vang đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Vì thế, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã quyết định tái thiết nơi Linh thiêng dành riêng kính Đức Mẹ này.
 
img 2027 35246144492 o
Ngày 15/08/2012, Giáo Hội Việt Nam đã long trọng cử hành lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang. Về kích cỡ, đây là công trình lớn nhất của Giáo Hội Việt Nam từ trước đến nay. Theo dự toán, nếu thực hiện tất cả mọi hạng mục của quần thể Trung Tâm Hành Hương, số kinh phí lên đến hàng ngàn tỉ đồng Việt Nam (tương đương với gần năm mươi triệu đô la Mỹ).
 
img 2091 35283035641 o
Được biết, công trình này đã bước vào giai đoạn 6 bắt đầu từ ngày 21/10/2016 và dự kiến hoàn thành ngày 28/10/2017.

Một số hình ảnh cập nhật về công trình :
img 2092 34570686394 o
img 2093 35246142232 o
img 2090 35246142722 o
img 2076 34570688044 o
DenThanhLaVang PhoiCanhQuyHoach

Tác giả bài viết: Đình Phú - Ảnh: BTTGp. Long Xuyên
Nguồn tin: Gp Bùi Chu
Có một truyền thống từ thế kỷ 16 kể lại rằng một lái buôn từ đảo Crete đã ăn cắp một bức ảnh hay làm phép lạ từ một nhà thở ở đảo này. Ông đã dấu bức ảnh trong hàng hoá của mình và cằng buồm đi về hướng tây. Nhờ sự quan phòng cách đặc biệt và nhiệm màu của Thiên Chúa, ông đã sống sót qua cơn bão hãi hùng và cập bến an toàn. Sau đó hơn một năm ông làm một chuyến hành trình đến Roma và đem theo bên mình bức linh ảnh ông đã lấy cắp.
Lịch sử bức linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Lịch sử bức linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Ở Roma ông đã lâm trọng bệnh và tìm một người bạn chăm sóc cho ông. Trong giờ lâm tử, ông đã tiết lộ bí về bức linh ảnh cho người bạn, và van xin người hãy trao trả lại bức linh ảnh này cho một nhà thờ nào đó. Người bạn của ông hứa sẽ hoàn tất ước muốn này, nhưng vì vợ anh không muốn từ bỏ một báu vật quý giá như vậy, và mãi đến khi người bạn chết mà lời hứa vẫn chưa được thực thi.

Cuối cùng, Đức Trinh Nữ Xuất hiện ra với đứa con gái sáu tuổi của gia đình nơi thành Roma này và nói với cô bé để nói với mẹ và bà của cô bé rằng bức linh ảnh Rất Thánh Maria, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nên được đặt trong nhà thờ thánh Matthew Tông Đồ, nằm giữa vương cung Thánh Đường Đức Bà Cả và đền thánh Thánh Gioan Latêranô.

Sau nhiều nghi vấn và khó khăn, truyền thống ghi lại làm thế nào bức linh ảnh được đặt lại nơi nhà thờ thánh Matthew. “người mẹ vâng lời và sau khi tham khảo ý kiến ​​các linh mục phụ trách Hội Thánh địa phương, bức linh ảnh Đức Trinh Nữ được đặt trong đền thờ thánh Matthew vào ngày 27 tháng 3 năm 1499″. Ở đây, bức linh ảnh sẽ được tôn kính trong suốt 300 năm tiếp theo. Như thế, bước sang giai đoạn thứ hai trong lịch sử của bức linh ảnh, và lòng sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp bắt đầu lan rộng khắp thành Rome.

Ba thế kỷ trong đền thở thánh Mátthêu

Nhà thờ thánh Matthew không thật sự lớn nhưng ngồi đền thờ này lại sở hữu một kho tàng vô giá đã lôi cuốn nhiều tín hữu: Bức Linh Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Từ 1739 đến 1798, nhà thờ và tu viện bên cạnh đó dưới sự cai quan của các tu sĩ dòng Augustinô, người Ailen, những người đã bị đày đi ra khỏi đất nước họ một cách bất công, thế nên các tu sĩ đã phải sử dụng tu viện ở đây như một trung tâm đào tạo nhân sự của họ cho tỉnh dòng Roma. Các tu sĩ trẻ giữa những ồn ảo, biến động của thời cuộc đã tìm thấy sự bình an ở nơi đây nhờ sự hiện diện của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trong giai đoạn đào tạo để tiến tới chức linh mục, những nhà thừa sai và những vị tử đạo trong tương lai.

Trong năm 1798, ở Rome xảy ra chiến tranh. Hầu hết các nhà thờ và các tu viện bị phá huỷ hoàn toàn. Các tu sĩ dòng Thánh Augustine vẫn cố bám trụ ở đây thêm vài năm nữa, nhưng cuối cùng họ cũng phải rời đi. Một số về lại cố hương Ailen, số khác đi lập cộng đoàn mới ở Hoa Kỳ, trong khi đó phần lớn các tu sĩ dòng này chuyển đến sống ở các tu viện vùng lân cận. Nhóm tu sĩ đến sống ở vùng lân cận đã đem theo với họ bức linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Đây khởi đầu cho giai đoạn thứ ba của bức linh ảnh, “những năm tháng bị lãng quên”.
 
đức mẹ cứu giúp

Năm 1819, các tu sĩ dòng thánh Augustine chuyển đến nhà thờ Đức Maria ở Posterula, gần cầu Umberto I bác qua sông Tiber. Bức linh ảnh cùng với họ đến ở nhà thờ thánh Mattew được dâng kính cho Đức Trinh Nữ. Tuy nhiên, bởi vì đền thờ này đã được dâng kính cho Đức Bà Ban Ơn nên khi bức linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp lúc mới đến được đặt ở một nhà nguyện riêng trong nội vi tu viện nơi các tu sĩ cầu nguyện. Với thời gian và không ai biết về gốc tích lạ lùng của bức linh anh nên bức linh ảnh đã không được tôn kính đúng mức. Dường như tất cả mọi người đã quên bức lính ảnh này, ngoại trừ một tu sĩ trẻ người xuất thân từ tu viện của nhà thờ thánh Matthew.

Vị Tu sĩ già và cậu bé giúp lễ
Năm tháng trôi đi, và hình như là bức linh ảnh đã mang lại nhiều ơn lành cho dân chúng ở nhà thờ thánh Matthew giờ đây đã bị thất lạc và chìm vào trong quên lãng. Một cậu bé giúp lễ tên là Michael Marchi thường viếng nhà thờ Thánh Maria ở Posterula và cậu bé trở thành rất thân thiết tu sĩ dòng thánh Augustine. Mãi về sau, như cha của cậu bé giúp lễ, ông Michel sẽ viết:

“Đây là một tu sĩ đạo đức thường xuyên nói với tôi về một tâm trạng lo lăng và mang tính huyền bí, đặc biệt vào những năm 1850 và 1851. Đây tôi lặp lại chính xác những lời vị tu sĩ này chia sẻ: ‘Hỡi con (cậu bé giúp lễ), con phải nhớ chắc chắn điều này là bức linh ảnh rất thánh Đồng Trinh ở nhà thờ thánh Matthew được treo ở trong nhà nguyện: Đừng quên bức linh ảnh nhé! Con có hiểu không? Đó là một bức linh ảnh hay làm phép lạ. Khi mà nói những lời này thì cặp mặt của vị tu sĩ đạo hạnh này hầu như đã bị loà hầu như không nhìn được nữa.”

“Điều tôi có thể nói về bức ảnh đáng kính này của Đức Trinh Nữ tại nhà thờ thánh Matthew, cũng được gọi là bức linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, là ngay từ thời thơ ấu của tôi mãi cho đến khi tôi vào Hội Dòng (Dòng Chúa Cứu Thế), tôi đã luôn luôn nhìn bức linh ảnh được treo trên bàn thờ của nhà nguyện của các cha dòng thánh Augustine thuộc tỉnh dòng Ailen ở Posterula… Ở đó bức linh ảnh không được tôn kính gì cả, không được trang trí, thậm chí không có một ngọn đèn hay cây nến nào được thắp lên trước bức linh ảnh… Bức linh ảnh bị bỏ không với bụi bặm. Nhiều lần giúp lễ ở đó, tôi đã chiêm ngắm bức linh ảnh với một nỗi lòng đặc biệt.”

Thầy dòng thuộc hội dòng thánh Augustine này chết vào năm 1853, ở độ tuổi đáng kính, 86 tuổi, tuy nhiện ước nguyện của vị tu sĩ này vẫn chưa được mãn nguyện là muốn được nhìn thấy bức linh ảnh này được tôn kính một cách công khai trở lại. Những lời cầu nguyện liên lỉ và sự tín thác vô bờ bến của vị tu sĩ này vào Đức Trinh Nữ Maria dường như chưa có câu trả lời.
 
Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

Tái Khám Phá Bức Linh Ảnh

Vào tháng Giêng năm 1855, các vị thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế đã mua toà nhà Caserta ở Rome, với mục đích sử dụng nó trở thành ngồi nhà trung ước cho sứ vụ của hội dòng trong việc vươn tới Tây Âu và Bắc Mỹ. Khu đất mà các thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế mua lại chính là nơi mà xưa kia nhà thờ thánh Matthew và tu viện của các cha dòng Augustine đã bị làm mất dấu tích bởi thời gian và bởi chiến tranh. Lúc mua khu vực này các cha Dòng Chúa Cứu Thế không hề biết về quá khứ xa xưa của mảnh đất mà mình mua, nơi mà đã được chọn bởi Đức Trinh Nữ Maria. Các cha Dòng Chúa Cứu Thế chỉ thuần tuý mua một miếng đất nằm ở giữa Đền Thờ Đức Bà cả và vương cung thánh đường Gioan Lateranô.

Bốn tháng sau đó, công việc xây dựng bắt đầu bằng việc xây một nhà thờ để tôn kính thánh danh Chúa Cứu Thế và dâng kính thánh Alphonsus Liguori, đấng sáng lập của Hội dòng. Vào ngày 24 tháng 12 năm 1855, một nhóm các bạn trẻ đã được quy tu về tu viện mới này để bắt đầu năm tập viện của họ. Một trong số những người tham gia tập viện năm đó có một người tên là Michael Marchi.

Các vị thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế vô cùng quan tâm đến lịch sử nơi mà tu viện mới của họ đang sử dụng. Họ lại càng quan tâm hơn nữa khi vào ngày 07 tháng 02 năm 1863, họ bị chất vấn bởi một câu hỏi từ một bài giảng được trình bày bởi một nhà giàng thuyết lừng danh Dòng Tên thời bấy giờ, cha Phanxicô Blosi về một bức linh ảnh của Đức Trinh Nữ Maria. Bức linh ảnh này được đặt ở nhà thờ thánh Matthew trên khu vực Merulana và được biết đến như là Đức Trinh Nữ của thánh Matthew, hay phải nói chính xác hơn là Đức Trinh Nữ Hằng Cứu Giúp.”

Trong một chiều kích khác, các nhà nghiên cứu lịch sử thuộc hội Dòng Chúa Cứu Thế đã “tham chiếu một số học giả đã viết về di tích cổ của thành Roma và tìm tòi các tài liệu viết về nhà thờ thánh Matthew. Trong các tài liệu nói về khu đất mà Dòng Chúa Cứu Thế đang sử dụng có một chi tiết hết sức đặc biệt nói về một nhà thờ (nhà thờ này nằm ở vị trí cái vườn của tu viện bây giờ), và nhà thờ này có một bức linh ảnh rất cổ về Đức Trinh Nữ Mẹ của Thiên Chúa. Bức linh ảnh này được sùng kính một cách đặc biết và nổi tiểng với nhiều phép lạ.”

Sau đó, tất cả những thông tin, những khảo cứu này được trình bày trong cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế, và một cuộc hội thảo bắt đầu để tìm kiếm xem hiện giờ bức linh ảnh có thể đang ở đâu. Cha Marchi nhớ lại tất cả những điều mà ngài nghe được từ một tu sĩ già khả kính, Orsetti thuộc dòng thánh Augustine khi ngài còn thiếu thời. Ngài đã nói với các anh em trong cộng đoàn rằng ngài biết rất tường tận về bức linh ảnh, và đã từng nhìn thấy bức linh ảnh này. Ngài biết có thể tìm thấy nó ở đâu.
 
a

Dòng Chúa Cứu Thếnhận lại bức Linh Ảnh

Nhờ thông tin mới này, sự quan tâm giữa các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế để biết thêm về bức linh ảnh và làm thế nào để đưa bức linh ảnh này về lại cho nhà thờ của họ càng gia tăng. Bề Trên Tổng Quyền, Cha Nicholas Mauron, thảo một bức thư gửi cho Đức Giáo Hoàng Piô IX, xin Tòa Thánh trao bức linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho Dòng Chúa Cứu Thế và bức linh ảnh này được đặt trong vương cung thánh đường Đấng Cứu Thế và Thánh Anphongsô mới được xây. Thánh đường mới này nằm ngay bên cạnh nơi mà xưa kia là đền thờ thánh Matthew. Đức Giáo Hoàng đã chấp nhận lời thỉnh cầu của cha bề trên tổng quyền Dòng Chúa Cứu Thế và ở mặt sau của bản chấp nhận lời thỉnh cầu, ngài đã viết bằng tay những lời như sau:

Ngày 11 tháng 12 năm 1865: Đức Hồng Y tổng trưởng bộ truyền giáo triệu vời Bề Trên của cộng đoàng Thánh Maria ở Posterula và loan báo cho cha biết rằng đó là ước ao của Toà Thánh bức linh ảnh Mẹ Rất Thánh, được đề cập đến trong bản kiến nghị, phải được đem đặt trở lại giữa Đền Thờ Đức Bà Cả và vương cung thánh đường Gioan. Dòng Chúa Cứu Thế chính là nơi thích hợp để tái đặt bức linh ảnh này.

Theo như được kể lại, Đức Giáo Hoàng Piô IX đã căn dặn Bề Trên Tổng quyền Dòng Chúa Cứu Thế rằng: “Các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế hãy làm cho cả thế gian biết đến Mẹ”. Vào tháng Giêng năm 1866, Cha Michael Marchi và cha Ernest Bresciani đi đến nhà thờ Thánh Mary ở Posterula để nhận bức linh ảnh từ các tu sĩ dòng thánh Augustinô.

Ngay sau đó bắt đầu tiến trình lau chùi và làm mới bức linh ảnh. Nhiệm vui này được giao phó cho một hoạ sĩ người Ba lan, tên là Leopold Nowotny. Cuối cùng vào ngày 26 tháng 4 năm 1866, bức linh ảnh được trưng bày trở lại để cho tôn kính công khai ở nhà thờ thánh Anphongsô ở đại lô Merulana.

Với biến cố này, giai đoạn thứ tư trong lịch sử của bức linh ảnh bắt đầu: bức linh ảnh bắt đầu lan ra khắp thế giới.

Việc Phục Hồi gần đây nhất của Bức Linh Ảnh

Năm 1990, bức linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được tháo xuống khỏi bàn thờ chính hầu đáp ứng các yêu cầu của rất nhiều người trong việc sao chép từ bức linh ảnh gốc này. Khí đó phát hiện tình trạng xuống cấp trầm trọng của bức linh ảnh. Khung gỗ cũng như nước sơn đã bị hư hại do những thay đổi của khí hậu và tiến trình phục hồi được bắt đầu. Bề trên trung ương của Dòng Chúa Cứu Thế nại đến sự giúp đỡ của các chuyên viên kỹ thuật trong viện bảo tàng của Vatican hầu tìm cách đối phó với các vết rạn nứt hay những chỗ bị mối mọt nguy hiểm tới bức linh ảnh.

Việc đầu tiên của quá trình phục hồi là việc sử dụng các tia X quang, tia hồng ngoại để phân tích, để xác định tính và định lường về loại sơn được vẽ trên bức linh ảnh. Kết quả của các phân tích này, đặc biệt là sự phất tích về tầng Carbon cho chúng ta biết rằng cái khung gỗ của bức linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu giúp có niên đại vào khoảng những năm 1325 đến 1480.
 
a

Bước thứ hai của tiến trình phục hồi là việc chữa các vết nứt, các chỗ lũng trong khung gỗ, làm sạch sơn và tổ sửa các phần bị ảnh hưởng, làm chắc chắn lại cấu trúc hình ảnh của bức linh ảnh…v.v. Việc can thiệp vật lý này bị hạn chế tối đa vì tất cả các công việc phục hồi, nó tương tự như phâu thuật một cơ thể vậy, luôn có thể gây ra một số chấn thương. Một phân tích nghệ thuật về màu sắc, sắc tố của sơn trên bức linh ảnh cũng chỉ ra rằng một số chỗ được sơn vào sau đó (sau thế kỷ 17). Điều này lý giải tại sao các biểu tượng trong bức linh ảnh cung cấp một tổng hợp các yếu tố pha trộn giữa Phương Đông và Phương Tây, đặc biệt các chi tiết trên các khuân mặt ở trong bức linh ảnh. □

KẾT LUẬN

Tôi đã từng nghe một câu chuyện cổ xưa về thánh Anrê mà tôi tin rằng tôi nên kể câu chuyện này như để kết thúc cuốn sách về linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Câu chuyện tưởng tượng này có thể tóm kết kinh nghiệm về bức linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trong đời đời sống của vô vàn tín hữu.
Chuyện kể rằng, sau khi bị tử vì đạo, thánh Anrê vào trong thiên đàng sau một cuộc đời sống trên dương gian với một tình yêu nồng nàn đối với thập giá của Chúa Kitô và Mẹ của Thiên Chúa, người đã chứng kiến những đau khổ và cái chết trên thập giá của con mình.

Khi được chấp nhận vào thiên đàng, thánh nhân bắt đầu đi tìm kiếm Mẹ Thiên Chúa. Thánh nhân hỏi vị thiên thần, người đang hướng dẫn thánh nhân đi qua các tầng trời, “Đức Mẹ ở đâu vậy?”
Thiên thần trả lời thánh nhân: “Mẹ không ở đây đâu. Mẹ đang lang thang dưới đất giữa những bộn bề đau khổ, đang làm khô đi những dòng lệ sầu của các con cái Mẹ đang than khóc.”

Mừng Vui Lên, Hỡi Trinh Nữ!
Mừng vui Lên, hỡi Đấng đầy ân sủng!
 
                                                                                                                   Nguồn tin: Nhà Thờ Thái Hà
Bản quyền của SVCG Thánh Tâm - Huế. chi tiết xin liên hệ: sinhvienthanhtamhue@gmail.com. Được tạo bởi Blogger.
| Copyright © 2013 SVCG Thánh Tâm - Huế