Các thai nhi bàn ở đây được hiểu là những bào thai [đã là người] bị chết trước khi được sinh ra do sẩy thai hay phá thai.1 Liệu có hợp lý không khi có rất nhiều giáo dân Việt Nam xin lễ cầu cho các thai nhi? Câu trả lời sau đây cho thấy đây là một thực hành cần phải xét lại vì nó không hợp lý xét theo đức tin, giáo lý và thần học của Giáo hội.


Rất tiếc, nhẽ ra phải giải thích cho giáo dân thông hiểu vấn đề này, một số linh mục lại “tích cực hưởng ứng” bằng cách nhận lễ, đọc rõ ý lễ cầu cho linh hồn thai nhi trong thánh lễ, thậm chí còn đọc giữa Kinh nguyện Thánh Thể nữa, khiến cho thực hành không cần thiết này tiếp tục được phổ biến tại nhiều giáo xứ.
Nói đây là một thực hành không cần thiết vì căn bản chúng ta chỉ cầu nguyện cho các linh hồn nơi thanh luyện chứ không cho những người trong thiên đàng hay hỏa ngục.2 Hội Thánh có hoạt động tuyên thánh chứ chưa bao giờ kết án ai phải sa hỏa ngục. Bởi thế, chúng ta loại trừ đối tượng của cầu nguyện là những kẻ đã thuộc về Satan mà không ai biết cả. Đối với những thành phần ở trên thiên quốc, chắc chắn họ không cần đến những lời cầu nguyện của chúng ta. Đúng hơn, từ trời cao, họ còn cầu thay nguyện giúp cho chúng ta. Bởi vậy, vào ngày lễ các thánh (1.11), chúng ta không cầu nguyện thay mặt cho các thánh, nhưng xin các ngài chuyển cầu cho chúng ta.3
Phần trình bày dưới đây muốn chứng minh rằng các thai nhi chết đi, dù chưa được lãnh nhận bí tích thánh tẩy, nhưng vô tội [cá nhân] và chúng ta có quyền hy vọng rằng, với lòng thương xót bao la vô hạn của Thiên Chúa, các thai nhi này sẽ nằm trong vòng tay yêu thương của Người. Hậu nhiên, chúng ta không cần có bất kỳ lời nói hay việc làm nào để cầu nguyện cho bé. Trái lại, bé có thể cầu nguyện cho chúng ta trước tòa Chúa.
1] Xin lễ cầu cho người đã qua đời
Căn cứ vào bản tính loài người: yếu đuối, mỏng giòn và hay sa ngã, dầu đã đón nhận ân sủng của bí tích Thánh Tẩy, chúng ta có thể kết luận rằng dầu người chính trực cũng mấy phen yếu hèn, nghĩa là dường như không ai có đủ nghị lực và cảnh giác để tránh mọi tội lỗi.4 Vì thế những người quá cố thân yêu của chúng ta có lẽ thuộc về thành phần còn đang ở nơi chốn / tình trạng thanh luyện. Nơi / tình trạng thanh luyện được hiểu là một tiến trình mà tình yêu của Thiên Chúa sẽ thay đổi tình trạng của các tín hữu đã qua đời từ tình trạng bất toàn sang tình trạng hoàn hảo, hầu chuẩn bị cho họ sớm được hưởng ánh sáng và bình an của Chúa Kitô. Chính trong quá trình này, họ cần đến lời cầu nguyện, những hy sinh và thánh lễ chúng ta cử hành. Bởi vậy, chúng ta nên xin lễ cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời.5
2] Xin lễ cầu cho trẻ em đã qua đời?
Áp dụng vào trường hợp các thai nhi, hoàn toàn khác với những gì vừa kể trên, chúng ta không thể xin lễ cầu nguyện vì dù chết do sẩy thai hay phá thai, đây đều là những sinh linh hoàn toàn vô tội (tội riêng). Có tác giả suy đoán chủ quan cho rằng các thai nhi [trong trường hợp bị phá thai] cũng phạm tội vì “em có thể nhận biết rằng cha mẹ và những người khác đang muốn loại trừ em, tiêu diệt em và em bất lực trước hành động tàn ác của họ. Em đau buồn, sợ hãi và có thể oán hận họ”. Do đó cần xin lễ cầu nguyện. Thực chất, em chưa được sinh ra, lớn lên và đến tuổi khôn để có thể phạm tội riêng được. Kẻ có tội là những ai đã phá thai hay giúp người khác phá thai có kết quả.6 Bởi thế, chắc chắn thai nhi không thể ở nơi / tình trạng thanh luyện. Hậu nhiên, trong thánh lễ, đối tượng chúng ta cần cầu nguyện cho không phải là thai nhi mà là hai thành phần sau: 1] Cha mẹ, gia đình và những người thân yêu của thai nhi; 2] Những người trực tiếp phá thai hay những người cộng tác vào đó. Trong một thánh lễ, Đức Tổng Giám mục José H. Gomez nói rằng chúng ta vinh danh sự sống thai nhi bằng lời cầu nguyện của chúng ta để xin Chúa chữa lành và hoán cải tất cả những ai dính líu đến tội ác và thảm hoạ này: đó là những người cha và người mẹ trực tiếp liên quan đến phá thai; cùng tất cả những người chịu trách nhiệm cổ võ cho nền văn hóa phá thai.7
a.Trẻ em đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy
Đối với một đứa trẻ đã được rửa tội, vấn đề không cần phải bàn cãi. Bởi vì chắc chắn nếu chết đi, bé sẽ được lên thiên đàng: “Nhờ bí tích Thánh Tẩy, mọi tội lỗi đều được tha: nguyên tội, mọi tội riêng cũng như mọi hình phạt do tội (x. DS 1316). Những người đã được tái sinh sẽ được vào Nước Thiên Chúa và không còn gì ngăn cản họ, dù là tội Adam, tội riêng của họ, những hậu quả của tội, kể cả hậu quả trầm trọng nhất là xa lìa Thiên Chúa”.8 Thánh Tôma Aquinô quả quyết rằng: “Những ai chết ngay lập tức sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, họ sẽ được nhận vào vinh quang Thiên Chúa không trì hoãn”. Một đứa trẻ chưa tới tuổi khôn được coi là không thể phạm bất cứ tội lỗi cá nhân nào. Do đó, nếu được rửa tội và chết đi trước tuổi khôn, trẻ chắc chắn được đón nhận vào thiên đường ngay lập tức. Các bài lễ an táng của Giáo hội trong Sách lễ Rôma hiện nay (trang 1031-1033) cho thấy: Hội Thánh hoàn toàn không nhắm cầu nguyện cho đứa trẻ được rửa tội và đã qua đời, thay vào đó:
Thứ nhất, Giáo hội khẳng định rằng “đứa trẻ đang được ở trên trời” (Lời nguyện nhập lễ - mẫu A); “Chúa đã đưa cháu về trời sống với Chúa” (Lời nguyện nhập lễ - mẫu B); và “chính Chúa đã đón nhận cháu T. vào bàn tiệc thiên quốc” (Lời nguyện hiệp lễ - Mẫu B);
Thứ hai, Hội Thánh cầu xin Chúa “an ủi gia đình cháu T. trong những giờ phút đau thương này” (Lời nguyện hiệp lễ - mẫu A) và khuyến dụ họ “hằng tin tưởng vâng theo ý Chúa” (Lời nguyện tiến lễ - mẫu B) trước biến cố đứa trẻ được Chúa gọi về.
Hơn nữa, theo một truyền thống cổ xưa, Giáo hội luôn luôn sử dụng lễ phục màu trắng khi cử hành phụng vụ tang lễ những đứa trẻ đã được rửa tội nhằm ám chỉ rằng trẻ này như được liệt vào số những vị thánh. Bởi vậy, đối với những đứa trẻ đã thuộc về nước trời như thế, hoàn toàn không cần đến lời cầu nguyện của chúng ta nữa.
b. Trường hợp các thai nhi  
Tuy nhiên, đối với các trẻ em (thai nhi) chưa được rửa tội, sẽ không thoát khỏi hậu quả của tội nguyên tổ do Adam và Eva để lại (Tv 51, 5; Ga 3, 5).9 Bởi vậy, qua nhiều thế kỷ, dân chúng vẫn tự hỏi về số phận của trẻ em qua đời trước khi được lãnh nhận bí tích rửa tội. Kinh Thánh không minh nhiên phát biểu bé sẽ được vào thiên đàng. Nhưng Kinh Thánh lại nhấn mạnh đến lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa (Tv 136; 145, 8-9; Ep 2, 4-5); đề cập đến niềm tin của vua Đavit rằng ông sẽ được ở với đứa con thơ bé đã chết của mình lần nữa dù nó không về lại với ông (2Sm 12, 14-31); còn trong Tin Mừng, Chúa Giêsu ưu ái mời gọi tất cả trẻ em đến với Người (x. Mt 19, 14; Mc 10, 14; Lc 18, 16). Vì không dám quả quyết các trẻ em đã chết mà chưa được rửa tội thì thuộc về thiên đàng nhưng lại chắc chắn bé chẳng có tội tình [cá nhân] gì nghiêm trọng để ở nơi / tình trạng thanh luyện, cho nên một số thần học gia, kể cả thánh Tôma Aquinô, đã đưa ra lý thuyết về lâm bô như là một nơi chốn / tình trạng cho những trẻ em đó: nằm giữa vương quốc của Thiên Chúa và kiếp bị luận phạt (Denzinger-H, các số 184, 219; 780). Cần nhớ rằng dù đã được sử dụng nhiều thế kỷ trong Giáo hội, nhưng ý kiến thần học này chỉ là một suy đoán và giả thuyết thần học (theological hypothesis). Nó chưa bao giờ là chân lý đức tin được Hội Thánh xác nhận, nghĩa là chưa bao giờ thuộc về đạo lý chính thức của Hội Thánh. Hiện nay, giả thuyết này đã bị coi là không phù hợp vì theo Ủy ban Thần học Quốc tế, nó không có nền tảng rõ ràng trong mạc khải và phản ánh một “quan niệm hạn chế quá mức ơn cứu độ của Thiên Chúa”.10
Chúng ta tin từ đức tin của Hội Thánh, từ những thực hành và sinh hoạt phụng vụ của Hội Thánh như câu châm ngôn ngàn đời của Giáo hội “lex orandi, lex credendi - luật cầu nguyện là luật đức tin”. Thế mà, lâm bô chưa bao giờ được đề cập đến trong phụng vụ. Tiếp nữa, từ sau Công đồng Vatican II, trẻ em chết mà chưa được rửa tội không còn phải chôn cất bên ngoài đất thánh và có cả thánh lễ an táng dành cho trẻ nữa. Qua bài lễ an táng cho “Trẻ em chưa lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy” trong Sách lễ Rôma [hiện nay] (trang 1033-1034), chúng ta thấy rõ hai điều:
Thứ nhất, Hội Thánh tín thác chúng cho tình yêu và lòng thương xót của Chúa như sau:11 “Chúa biết rõ niềm tin của gia đình cháu T., xin cho họ cảm thấy con mình đã được Chúa nhân từ đón nhận” (Lời nguyện nhập lễ);
Thứ hai, Hội Thánh không cầu nguyện cho linh hồn của đứa trẻ, nhưng tập trung vào đối tượng là những người thân yêu của bé: “xin cho họ được trông cậy vững vàng sẽ được Chúa nhân từ nâng đỡ ủi an” (Lời nguyện nhập lễ); xin cho họ “hằng tin tưởng vâng theo thánh ý để được Chúa nhân từ nâng đỡ ủi an” (Lời nguyện tiến lễ); “xin Chúa thương chấp nhận lời chúng con tin tưởng nài van mà can ủi gia đình cháu T… trong những giờ phút đau thương này” (Lời nguyện hiệp lễ)
Như vậy, con trẻ chết trong tình trạng thai nhi vẫn có thể được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Máu của Người đã đổ ra một lần đủ để cứu chuộc tội lỗi của toàn thế giới (1Ga 2, 2).12 Bởi thế, chúng ta hy vọng rằng linh hồn của các trẻ em sẽ được ở cùng của Chúa khi sự sống của chúng bị cắt đứt bởi sự sẩy thai hay hành động phá thai. Nếu như chúng ta cử hành lễ kính các thánh anh hài (28/12) xét như là những vị tử đạo vì đức tin, mặc dầu các thánh anh hài chưa hề được rửa tội và cũng không biết Chúa Kitô, thì các thai nhi - nạn nhân của phá thai - có thể được coi là “những vị tử đạo trong thời hiện đại”, đã bị giết chết chỉ vì được Thiên Chúa tác tạo nên nhưng đã bị hủy diệt bởi bàn tay con người. Khi ngỏ lời với những phụ nữ trót phạm tội phá thai giết hại con mình, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết trong Thông điệp “Tin Mừng Sự sống” (Evangelium Vitae) thế này: “... Chị em biết rằng chẳng có chi là hư mất cả và chị em có thể xin lỗi đứa con của mình mà từ nay chúng đang được sống trong Thiên Chúa” (số 99).13
Kết luận
Như vậy, không cần phải lo cho phần rỗi của các thai nhi, nghĩa là không cần phải xin lễ để cầu cho trẻ vì xin lễ chỉ có giá trị tha thứ các hình phạt hữu hạn cho các linh hồn đang còn được thanh lọc nơi thanh luyện, chứ không có giá trị tha nguyên tội và các tội cá nhân cho người còn sống hay đã qua đời. Đối với các thai nhi mất đi thì đương nhiên không mắc những tội cá nhân. Còn về nguyên tội, dựa trên những nền tảng thần học và phụng vụ xác đáng, Hội Thánh vẫn không ngừng khuyến khích con cái mình hãy đặt niềm hy vọng vào Chúa: các thai nhi đã được Chúa nhân từ đón nhận và đang nằm trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa rồi.
Để kết thúc bài viết, xin trích lại lời dạy chính thức của Giáo hội: “Về phần các trẻ em chết mà chưa được rửa tội, Hội Thánh chỉ còn biết trao phó các em cho lòng thương xót của Thiên Chúa từ bi, như Hội Thánh đã làm trong nghi lễ an táng dành cho các em. Thực vậy, Thiên Chúa giàu lòng thương xót muốn mọi người được cứu rỗi (x. 1Tm 2,4) và Chúa Giêsu đã trìu mến các em nên đã nói: “Hãy để trẻ em đến cùng Ta, đừng ngăn cản chúng” (Mc 10,14). Vì thế, chúng ta hy vọng có một con đường cứu độ dành cho những trẻ em chết mà chưa được rửa tội”.14
Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS
___________________________________________
1 Xc. Bộ Giáo lý Đức tin, Donum vitae, I, 1: AAS 80 (1988), 79; Dignitas Personae, 1 (08/09/ 2008). 
2 Xc. The International Theological Commission, “The Hope of Salvation for Infants Who Die Without Being Baptised” (được ĐGH Bênêdictô XVI phê chuẩn ngày 19.1.2007), số 5.
Giáo lý Hội Thánh Công giáo (= GLCG), số 828.
4 GLCG 978-979; 1863.
5 GLCG 1030-1031; 958; 1371; 1689.
6 GLCG 1853-1876.
7 Tổng Giám mục José H. Gomez, “This Culture of Death Will One Day Pass Away” trích từ L’Osservatore Romano [bản tiếng Anh] (01/02/2012), tr. 15.
8 GLCG 978; 985; 1263; 1279.
9 GLCG 402-406;1250. 1257.
10 Xc. The International Theological Commission, “The Hope of Salvation for Infants Who Die Without Being Baptised”. 
11 GLCG 1261.
12 Xc. The International Theological Commission, “The Hope of Salvation for Infants Who Die Without Being Baptised”, các số 88-95.
13 Gioan Phao lô II, Tông Thư Evangelium vitae (25/03/1995): AAS 87 (1995), 401-522.
14 GLCG 1261.

Nguồn tin: Báo Công giáo và Dân tộc

Niên Khóa 2016-2017

1. Địa điểm: Dòng Thánh Tâm - Huế, 67 Phan Đình Phùng, Tp. Huế
2. Thời gian : Chúa nhật XXVII Thường niên, ngày 02 tháng 10 năm 2016
 3. Chủ đề : " Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn trật chân lỡ bước” (Tv 212,3).
4. Chương trình cụ thể:
- 07h 30: Đón tiếp; Tân sinh viên nhận khăn quàng, và nhận phiếu ghi danh.
- 08h: Khởi động, chuẩn bị Phụng vụ.
- 08h 30: Chào mừng: Ban Đặc trách, Ban Điều hành, và Tân sinh viên NK 2015-2016, Văn nghệ chào mừng.
- 09h: Cha Đặc trách Sinh viên: Trình bày Chương trình và Hướng sinh hoạt NK 2016 – 2017 – Đánh trống khai giảng.
- 10h: Gặp mặt các nhóm.
- 10h30: Thánh Lễ Khai giảng Niên khóa 2016– 2017
 - 11h30 : Cơm trưa
- 12h: Bài ca chia tay, hẹn gặp lại vào lễ Chúa Nhật hàng tuần.                 
                          Huế, ngày 10 tháng 9 năm 2016
                                                                      
                                                                    T/m BĐH
Cha Đặc Trách                                          

                                                                                Phanxicô Xavie Võ Văn Lộc


Ts. Lm Pet Nguyễn Thái Vạn, CSC                            
Bạn quan niệm về người đi tu thế nào? Quan điểm của bạn có thực sự đúng không? Mời bạn đọc và suy nghĩ!


1. 
Người đi tu là một người thánh?

Đúng. Vì người đi tu được hiến dâng cho Thiên Chúa để sống cho Ngài, chọn Ngài làm đối tượng tình yêu của mình. Họ được Giáo Hội thánh hiến để thuộc về Thiên Chúa là Đấng Thánh. Họ được Thiên Chúa thánh hiến để sống cho Ngài và cho người khác.

Sai. Tuy nhiên, họ vẫn không được chích ngừa vaccine miễn chủng khỏi những tính tình riêng, và cả sự yếu đuối bản thân nữa. Họ là một người thánh, nhưng là một vị thánh bất toàn đang vươn tới sự hoàn thiện mỗi ngày. Nói cách khác, chính vì thấy mình bất toàn mà họ đi tu, vì “tu” là “sửa”.

ð    Đề nghị: Bạn hãy quý trọng những người đi tu vì phẩm giá cao quý của họ và vì sự can đảm của họ, nhưng cũng không nên “tôn kính” họ cách quá đáng theo kiểu quan lại hay công chức, vì làm như vậy sẽ vô tình làm hư họ đấy, vì ai cũng có cái tôi to đùng nơi cái rốn chờ lúc chui ra! Bạn đừng thần tượng những người đi tu quá mức để rồi có lúc suy sụp không đáng có vì sự thiếu trưởng thành khi thần tượng đổ vỡ, bạn cũng đừng “khử thiêng” họ bằng lối suy nghĩ “bài giáo sĩ” kiểu luôn dị ứng, chống đối. Cần có sự trưởng thành trong nhận định.


2. Người đi tu không biết tới cảm giác yêu?

Sai: Có lẽ khi bất cứ ai biết một người đi tu đều trố mắt nhìn họ mà hỏi: “Vậy bạn không lấy vợ/chồng hả? Sao mà… chịu nổi?” Bạn ạ, người đi tu cũng là con người, họ cũng có những đam mê, cũng có trái tim bằng thịt để yêu, để thương, để mến. Có lẽ ai chưa có kinh nghiệm về tình yêu thì cũng khó sống đời tu, và ai không có khả năng yêu thương thì cũng không thể hạnh phúc trong đời tu. Người ta đi tu để yêu thương cách chân thành và quảng đại hơn thôi. Thế nên, bạn đừng ngạc nhiên khi thấy một tu sĩ cũng có những xúc cảm rất con người. Họ cũng cười, cũng khóc, cũng nhạy cảm. Họ không phải là những robot không cảm xúc hay là những cỗ máy automatic có “trái tim mùa đông”. Đời tu là một chạy marathon đòi hỏi nỗ lực dẻo dai và một đam mê bền bỉ kiên trì, chứ không phải là một gameshow chỉ chiếu trong vài tiếng, rất hoành tráng mà ngắn ngủi. Có những thời gian trong đời tu nhẹ nhàng hơn, dễ thở hơn, và cũng có những thời gian khó chịu hơn, khó sống hơn.

ð  Đề nghị: Thế nên, hãy giúp người đi tu sống trọn đời tu của họ bằng sự cảm thông, chia sẻ, trân trọng nỗ lực của họ, nâng đỡ họ bằng lời cầu nguyện và tình yêu thay vì xét đoán, kì thị, tẩy chay họ bạn nhé. Họ vẫn có một trái tim bằng thịt để yêu thương và được yêu thương. Hãy giúp cho trái tim họ luôn hồng tươi để yêu Chúa, yêu người và yêu đời trong sự triển nở.

3.  Người đi tu là người khờ khạo, tránh né cuộc sống?

Sai: Này bạn, bạn có biết là trong cộng đoàn, chủng viện, học viện của chúng tôi không hiếm những bác sĩ, kĩ sư, kiến trúc sư, cử nhân, giáo viên, ngay cả những người mẫu, ca sĩ, họa sĩ không? Họ đáng lẽ đã có một cuộc sống ổn định và một mái ấm gia đình hạnh phúc, nhưng họ chọn đời tu để làm gì? Đời tu của Giáo hội Công giáo không giống như những tôn giáo khác. Đi tu không phải để trốn đời, khỏi vướng bận trần tục, để nương náu tấm thân cho an nhàn. Những tư tưởng “thoát tục” cũng có những giá trị nhất định, nhưng ngoại trừ những ơn gọi sống đời đan sĩ, hoặc khổ tu, ẩn tu (những ơn gọi này đòi hỏi sự từ bỏ cao độ nên rất cao quý, Đức Thánh Cha Benedict XVI gọi họ là bộ rễ đầy sức sống của Giáo hội), đại đa số người đi tu của Giáo hội Công giáo không tránh né cuộc đời, không tìm đời tu để nương náu tấm thân khỏi khổ cực, tìm an nhàn, hay để che giấu những khuyết điểm, thất bại, những vấn đề trong cuộc sống. Họ không phải là những người không sống nổi ở đời nên đi tu cho “phẻ”. Đức Thánh Cha Phanxicô gần đây nói rõ điều đó trong cuộc nói chuyện với các Chủng sinh Pháp. Lý tưởng đời tu đòi hỏi người ta phải can đảm sống đời tu để ở lại với Chúa, để rồi dấn thân đi vào cuộc đời mang Chúa đến khắp nơi. “Ở” và “đi” là lộ trình mỗi ngày mà nếu thiếu là mất cân bằng ngay. Cần “ở” đủ, để “đi” chắc. Cần “đi” đủ, để thèm “ở” lại sâu.

4. Người đi tu chỉ là những nhân viên, công chức của Giáo hội?

Đúng: Hiểu một nghĩa nào đó, bạn cũng có thể hiểu người đi tu là những “nhân viên, công chức” của Giáo hội vì họ làm việc cho Giáo hội. Bạn hãy nhìn vào những việc họ làm: dâng Thánh lễ, dạy giáo lý, hoạt động tông đồ, chăm sóc người bệnh, phục vụ người nghèo, lo lắng cho trẻ em và người già, giáo dục cho giới trẻ…

Sai: Nhưng không dừng ở đó, họ không chỉ là những “ôsin hạng sang”. Họ không phải là những nhân viên, công chức làm việc để lấy lương hay lấy tiếng. Biết bao việc họ làm, dù nổi tiếng hay âm thầm đều có giá trị, bởi họ làm vì tình yêu. Họ yêu mến Thiên Chúa, yêu đời, yêu người dù nhiều khi người…chẳng đáng yêu, họ đến những nơi không ai muốn đến, tới với những con người không ai muốn tới, và cũng có lúc họ chỉ nhận được sự xua đuổi, ác cảm, nghi ngờ, hiểu lầm… Nhưng song song đó, có những phần thưởng mà không có trợ cấp công ty nào có thể cho họ được, như niềm vui chia sẻ với người tàn tật, nụ cười của những người nghèo, tình thương ấm áp của những trẻ em mồ côi, dạy học cho người cơ nhỡ, tình bạn trong sáng với giới trẻ… Có những hạnh phúc không thể mua được bằng tiền bạc hay vật chất, phải không bạn?

5. “Đi tu đi, sướng lắm!” hoặc “Đừng có đi tu, cực lắm!”

Bạn vẫn thường nghe điều này từ những người khác, kể cả ông bà cha mẹ của bạn, phải không? Thực ra thì đời sống nào, ơn gọi nào cũng có vui buồn sướng khổ riêng của nó hết. Ơn gọi dâng hiến có niềm vui, có cực nhọc, và ơn gọi gia đình, ơn gọi độc thân giữa đời cũng vậy thôi. Bạn đừng “đứng núi nọ trông núi kia.” Nếu bạn đi tu để được vui, được sướng, được nhàn, thì bạn sẽ thất vọng. Nếu bạn đi tu chỉ để tìm “đau khổ”, “nhọc nhằn”, thì có vẻ cũng không “lành mạnh” lắm (cũng có những người được đặc sủng chịu nhiều đau khổ để đền tội cho người khác và chia sẻ cuộc Khổ Nạn Chúa, tuy nhiên đó là một ơn gọi đặc biệt và ít gặp)! Tôi xin nhắc lại với bạn: Đời sống nào cũng có nụ cười và nước mắt. Đi tu cũng vô số trò hài hước đó bạn ạ! Tùy theo sự lựa chọn của bạn và thái độ đón nhận của bạn thôi. Nếu bạn thấy hạnh phúc, bạn có thể chịu đựng được cả nụ cười lẫn nước mắt, phải không? Nếu bạn thấy trong tâm hồn mình có được tiếng gọi đi theo một ơn gọi nào đó, hãy mạnh dạn bước theo tiếng gọi của trái tim, và dĩ nhiên như người ta nói, đừng quên mang theo bộ não! (Follow your hearts, but remember to bring your brains) Bạn có quyền và nghĩa vụ chọn cho mình đời sống thích hợp nhất, hạnh phúc nhất, bởi vì người khác có thể có ý kiến về quyết định của bạn, nhưng chẳng ai sống dùm bạn cả đời. Bạn phải có trách nhiệm với cuộc sống của mình, đừng dang dở để rồi nuối tiếc. Điều gì quyết định bằng sự tự do thì cũng có giá trị của nó. Chính bạn lựa chọn, chính bạn có trách nhiệm về hành vi của mình. Và đừng quên, Chúa lúc nào cũng muốn bạn được hạnh phúc cả. Vấn đề chỉ là bạn có can đảm chọn và đi theo điều Chúa chỉ không, và để có được hạnh phúc, bạn luôn cần trả giá-một cái giá xứng đáng với hạnh phúc của bạn. “Chịu chơi thì phải chịu chi” mà!

ð    Đề nghị: Nhiều bạn trẻ ban đầu cũng có thể có định kiến ban đầu về đời tu “rất sướng” hay “rất cực”, không sao cả! Từ từ, chính Chúa sẽ thanh luyện động lực ơn gọi của bạn nên tinh tuyền và trưởng thành hơn, với điều kiện là bạn hãy đón nghe tiếng Chúa trong cầu nguyện để thưa “Xin vâng trong mọi sự” như Đức Mẹ và Thánh Giuse, khi bàn hỏi với những vị linh hướng, những người có kinh nghiệm, và sử dụng sự khôn ngoan Chúa ban để phân định và quyết định. Chúa không để bạn lạc đường nếu bạn xin Ngài dẫn lối, trừ khi bạn không để Chúa-dắt-bạn mà là bạn-dắt-Chúa đi!

Con chiên nhỏ
Hôm nay, ngày 20 tháng 9 năm 2016, tại thành phố Assisi, nước Ý, Đức Giáo Hoàng Phanxicô chủ sự cuộc Hội ngộ Liên tôn và cầu nguyện cho Hòa bình thế giới cùng với các vị lãnh đạo các tôn giáo trên toàn thế giới, với chủ đề: “Khát vọng hòa bình: Đối thoại giữa các tôn giáo và các nền văn hóa”. Hướng về Assisi trong tinh thần hiệp thông với vị cha chung Giáo Hội, giáo phận Vinh đã tổ chức trọng thể ngày cầu nguyện cho Công lý và Hòa Bình.
Vào lúc 9h30, tại Linh địa Trại Gáo, thánh lễ cầu nguyện chohòa bình thế giới và đất nước Việt Nam thân yêu đã được cử hành. Thánh lễ với sự chủ tế của Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Viên, Giám mục Phụ tá giáo phận Vinh, cùng với sự đồng tế của toàn thể linh mục trong toàn giáo phận. Đặc biệt, thánh lễ hôm nay còn có sự hiện diện của Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, nguyên Giám mục giáo phận Kon Tum, cha Vinh Sơn Phạm Trung Thành, nguyên Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Sự hiệp dâng thánh lễ của quý thầy Phó tế, Chủng sinh, Tu sĩ nam nữ, đại diện các giáo xứ và hàng chục ngàn bà con giáo dân và lương dân.
Đức cha Phaolô, chủ chăn giáo phận, vì đang bận thực hiện chuyến công tác đã lên lịch từ trước nên ngài đã không thể hiện diện trong thánh lễ. Từ phương xa, Đức cha bày tỏ tình liên đới và hiệp dâng lời cầu nguyện cùng với mọi thành phần Dân Chúa giáo phận nhà.
Mặc dù ngay từ sáng sớm, những cơn mưa nặng hạt liên tục trút xuống không ngớt, nhưng không ngăn được bước chân của hàng chục ngàn người đang mang trong mình khát vọng hòa bình và thao thức vì công lý. Họ là những linh mục, chủng sinh, nam nữ tu sĩ và giáo dân ở khắp nơi trên miền đất Nghệ - Tĩnh – Bình này.
Trái đất là ngôi nhà chung, mà ở đó, con người cùng chung sống, cùng nỗ lực và giúp nhau làm tròn đầy nhân vị, làm giàu ý nghĩa nhân sinh. Với những hoa trái ngọt lành của nền văn minh trí tuệ, con người đang thực sự bước đi trong một thế giới hiện đại và thụ hưởng. Tuy nhiên, trải dài theo nhịp độ của thời gian và không gian, chiến tranh, xung đột, bạo lực vẫn là một kinh nghiệm đau thương, một thực tế phũ phàng không thể lẫn tránh. Hòa bình và hạnh phúc vẫn đang là một khát vọng thăm thẳm của con người. Nhân loại ngày hôm nay vẫn đang phải dò dẫm bước đi trên con đường lắm chông gai: chiến tranh, xung đột, bạo lực, bất công đang xảy ra nhiều nơi trên thế giới; nhân tai và thiên tai đang là những thảm họa thường trực; sự bất an bao trùm lấy cuộc sống thường nhật. Cách riêng, tổ quốc Việt Nam thân yêu cũng đang đứng trước một thời kỳ bất ổn và đầy thử thách. Chính quyền Trung Quốc đang có những hành động thể hiện rõ ý đồ thực hiện từng bước kế hoạch xâm lược Việt Nam. Thực trạng trên đang có nguy cơ cao đưa đến những cuộc chiến tranh. Trong khi đó, tình hình nội bộ trong đất nước Việt Nam đang có nhiều vấn đề như nhân phẩm, nhân quyền chưa được tôn trọng, nạn bất công vẫn đang hoành hành, sự gian dối, nạn tham ô và cậy quyền đang lan tràn... 
Lịch sử loài người minh xác con người ở mọi nơi mọi thời luôn khao khát hoà bình. Thiên Chúa là “nguồn yêu thương và bình an” và Ngài đã yêu thương loài người đến tột độ khi trao gửi Người Con Một là Đức Giêsu Kitô hoà nhập vào đời sống gia đình nhân loại, mang lại quà tặng bình an cho mọi người, mọi dân tộc. Hòa bình là ơn cứu thế, là hoa trái đầu tiên của bác ái mà Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta, là sự hòa giải và hòa hợp giữa chúng ta với Thiên Chúa. Hòa bình cũng là một giá trị nhân bản cần thực hiện trên bình diện xã hội và chính trị, nhưng nó có gốc rễ nơi mầu nhiệm của Chúa Kitô. Như thế, một nền hoà bình chân chính là nền hoà bình được xây trên nền tảng mối quan hệ thân thiết tin yêu giữa con người với Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, cùng trên nền tảng tình huynh đệ giữa con người với nhau là anh em một nhà. Nói cách khác, nền hoà bình chân chính, không đơn giản chỉ là vắng bóng chiến tranh, song là một cuộc sống chan hoà niềm tin yêu đối với Thiên Chúa, và tình huynh đệ hài hoà, tình tương thân tương trợ giữa con người với nhau, cũng như giữa các dân tộc trên mặt địa cầu hôm nay.
Thế nhưng, loài người ngày hôm nay lại đang tìm cách gạt Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của họ, mải miết đi tìm quyền lực, danh vọng và tiền tài, mà bất chấp nỗi khổ đau của anh chị em mình đang phải gánh chịu. Phải chăng đó là thái độ và hành động mà chúng ta đáng phải lên án và bài trừ? Nói cách khác, là phải sống và thực thi mong muốn tha thiết của Đức Thánh Cha Phanxicô: “Đừng bao giờ gây ra chiến tranh nữa! Chúng ta muốn có một thế giới hòa bình. Chúng ta muốn trở thành những con người của hòa bình”.
Giảng trong thánh lễ, cha Phêrô Nguyễn Văn Vinh đã nói lên khát vọng cháy bỏng của con người về một thế giới hòa bình. Bởi vì, theo ngài: “Có hòa bình mới có yên vui hạnh phúc. Chiến tranh luôn là điều dữ. Bởi lẽ không có thương vong nào nhiều như chiến tranh, không có chia ly nào nghiệt ngã như chiến tranh, không có thù hận nào dai dẳng như chiến tranh, không có cuộc sống nào bị xáo trộn và bấp bênh như trong thời chiến. Bởi lẽ không gì phá hoại nhiều như chiến tranh, chiến tranh cướp đi cả mạng sống của trẻ thơ lẫn giấc ngủ của tuổi già, chiến tranh làm cho bàn tay người ta buộc lòng phải vấy máu, buộc người ta phải trang bị cho mình thú tính hơn là nhân tính. Chiến tranh luôn là tai họa nên tránh và hòa bình luôn là khát vọng và tìm kiếm của mọi người”. Sau khi đã nêu ra cách tổng quan những hiện tình bất ổn của thế giới, cha Phêrô cho rằng, nguyên nhân của chiến tranh chung quy lại là do thiếu công bình và bác ái, là do lòng tham vô đáy của con người. Từ đó, cha Phêrô mời gọi mọi người dùng phương thế thiêng liêng là cầu nguyện để xin Thiên Chúa ban cho thế giới một nền hòa bình đúng nghĩa.
“Chúng tôi tới đây là do thúc đẩy của Tin Mừng: niềm vui, nỗi đau và những trăn trở của anh chị em cũng là niềm vui, nỗi đau và những trăn trở của chúng tôi” – Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh đã ngỏ lời như trên với cộng đoàn lúc cuối thánh lễ. Ngài đã gửi lời chào thăm tới cộng đoàn giáo phận Vinh và bày tỏ sự thán phục trước những hành động vì Công lý và Hòa bình mà giáo phận Vinh đã và đang thực hiện. Ngài cũng cầu chúc mọi thành phần giáo phận Vinh tiếp tục một lòng một ý với nhau trong mọi sự để công cuộc loan báo Tin Mừng, cuộc cuộc bảo vệ sự thật, công lý và hòa bình sẽ không bao giờ bị lãng quên.
Với Lòng Thương Xót Chúa trải qua từ đời nọ tới đời kia, chúng ta có quyền hy vọng và tín thác vào Người về một thế giới tràn đầy tình yêu và lòng thương xót. Để rồi nhờ ơn Chúa, mọi người mọi nơi thành tâm sám hối và chung tay góp sức xây dựng thế giới và đất nước được hòa bình, mọi người dân được hưởng tự do và hạnh phúc đích thực.


Jos. Trọng Tấn

ASSISI. Các vị lãnh đạo tôn giáo thế giới bày tỏ quyết tâm dấn thân xây dựng hòa bình, đồng thời lên án mọi hình thức lạm dụng tôn giáo để biện minh cho khủng bố, bạo lực và chiến tranh.


Lập trường trên đây được các vị bày tỏ trong tuyên ngôn chung vào cuối ngày cầu nguyện cho hòa bình thế giới tại Assisi 20-9-2016 trước sự hiện diện của 500 vị lãnh đạo các tôn giáo và hàng chục ngàn tín hữu tại quảng trường trước Vương cung thánh đường thánh Phanxicô ở Assisi.
 Tại buổi bế mạc này, một số vị lãnh đạo tôn giáo trong đó có Đức Thượng Phụ Bartolomaios I, Giáo chủ chính thống Constantinople, Hòa thượng Giáo chủ Tông phái Phật giáo Thiên Thai, Nhật Bản, một số vị khác, sau cùng là ĐTC.
 Buổi lễ được tiếp tục với phần đọc một lời kêu gọi Hòa Bình, được trao cho các em bé thuộc nhiều nước khác nhau.
 Lời kêu gọi hòa bình
 ”Là những người nam nữ thuộc các tôn giáo khác nhau, chúng tôi họp nhau như những người lữ hành tại thành của thánh Phanxicô. Tại đây cách đây 30 năm, vào năm 1986, theo lời mời của ĐGH Gioan Phaolô 2, các vị đại diện tôn giáo toàn thế giới, lần đâu tiên tham dự một cách trọng thể, để khẳng định mối liên hệ không thể tách rời giữa đại thiện ích hòa bình và thái độ tôn giáo chân chính. Từ biến cố lịch sử ấy, đã khởi sự một cuộc lữ hành dài, qua nhiều thành phố trên thế giới, đưa nhiều tín hữu can dự vào cuộc đối thoại và cầu nguyện cho hòa bình; đã liên kết nhưng không tạo nên sự lẫn lộn, mang lại những tình bạn liên tôn vững chắc và góp phần dập tắt không ít các cuộc xung đột. Đây là tinh thần đang linh hoạt chúng tôi: thực hiện cuộc gặp gỡ trong đối thoại, chống lại mọi hình thức bạo lực và lạm dụng tôn giáo để biện minh cho chiến tranh và khủng bố. Tuy nhiên, trong những năm qua, vẫn còn bao nhiêu dân tộc đang bị thương tổn đau thương vì chiến tranh. Người ta vẫn luôn không hiểu rằng chiến tranh làm cho thế giới xấu hơn, để lại gia sản đau thương và oán thù. Tất cả bị mất mát với chiến tranh, kể cả những kẻ thắng trận.
 ”Chúng tôi đã dâng lời khẩn nguyện lên Thiên Chúa, xin Ngài ban hồng ân hòa bình cho thế giới. Chúng tôi nhìn nhận sự cần thiết phải liên lỷ cầu nguyện cho hòa bình, vì lời cầu nguyện bảo vệ và soi sáng thế giới. Hòa bình là danh xưng của Thiên Chúa. Ai khẩn cầu danh Thiên Chúa để biện minh cho khủng bố, bạo lực và chiến tranh, thì không đi theo con đường của Chúa: chiến tranh nhân danh tôn giáo trở thành chiến tranh tôn giáo. Với xác tín mạnh mẽ, chúng tôi tái khẳng định rằng bạo lực và khủng bố trái ngược với tinh thần tôn giáo chân chính.
 ”Chúng tôi đã lắng nghe tiếng kêu của người nghèo, các trẻ em, các thế hệ trẻ, các phụ nữ và bao nhiêu anh chị em đang đau khổ vì chiến tranh; cùng với họ chúng tôi mạnh mẽ nói rằng: Không chấp nhận chiến tranh! Ước gì tiếng kêu đau thương của bao nhiêu người vô tội được lắng nghe. Chúng tôi khẩn thiết xin các vị lãnh đạo các dân nước hãy giải trừ những động lực chiến tranh: sự ham hố quyền bính và tiền bạc, lòng tham lam của những kẻ buôn bán võ khí, những lợi lộc phe phái, những trả thù vì quá khứ. Xin gia tăng sự dấn thân cụ thể để lại trừ những nguyên nhân tiềm ẩn của các cuộc xung đọt: những tình trạng nghèo đói, bất công, và chênh lệch, sự bóc lột và coi rẻ sự sống con người.
 ”Sau cùng, hãy mở ra một thời đại mới, trong đó thế giới hoàn cầu hóa trở thành gia đình các dân tộc. xin thực thi trách nhiệm kiến tạo hào bình chân thực, quan tâm đến những nhu cầu đích thực của con người và của các dân tộc, vượt thắng những xung đột bằng sự cộng tác, chiến thắng những oán thù và vượt lên trên những hàng rào bằng cuộc gặp gỡ và đói thoại. Không gì bị mất mát khi thực sự thi hành đối thoại. Không gì là không có thể nếu chúng ta ngỏ lời với Thiên Chúa trong kinh nguyện. Tất cả đều có thể là những người xây dựng hòa bình; từ Assisi chúng tôi quyết tâm canh tâm dấn thân trở thành những người xây dựng hòa bình với sự phù giúp của Thiên Chúa, cùng với tất cả những người nam nữ thiện chí.
 Sau khi tuyên ngôn hòa bình được công bố, mọi người đã thinh lặng mặc niệm các nạn nhân chiến tranh, trước khi các vị đại diện tôn giáo ký vào Lời Kêu Gọi hòa bình, và thắp sáng hai cây đèn nhiều ngành.
 Ngày cầu nguyện được kết thúc với cử chỉ trao ban bình an giữa các tham dự viên.
 G. Trần Đức Anh OP
Trong số báo ngày 15 tháng Chín vừa qua của tờ Washington Post, nữ ký giả Julie Zauzmer cho rằng tôn giáo là một doanh nghiệp lớn. Nhưng mà lớn cỡ nào? Một cuộc nghiên cứu mới do một nhóm chuyên viên gồm hai cha con công bố hôm thứ Tư, 14 tháng Chín, dưới hình thức một bài báo, cho hay: doanh nghiệp này lớn hơn cả Facebook, Google và Apple cộng lại.
 
customers.jpg
Các khách hang chờ để vào cửa hang Toys R Us ở quảng trường
Times, New York vào lễ Tạ Ơn dịp giảm giá Black Friday
Nov. 26, 2015. (Yana Paskova/Getty Images)

Bài báo đăng trên tờ Interdisciplinary Journal of Research on Religion (Tạp Chí Liên Khoa Nghiên Cứu về Tôn Giáo) nói rằng thu nhập hàng năm của các doanh nghiệp có cơ sở đức tin, không phải chỉ của các nhà thờ mà còn của các bệnh viện, trường học, các cơ quan bác ái và cả các nhạc sĩ tin mừng và các nhà chế tạo thực phẩm halal (Hồi Giáo) là 378 tỷ đôla một năm. Ấy là chưa tính sự phát đạt của việc mua sắm mùa Giáng Sinh.

Brian Grim của Đại Học Georgetown và Melissa Grim của Newseum, trong một cuộc nghiên cứu được tổ chức Faith Counts, một tổ chức chuyên cổ vũ các giá trị tôn giáo, tài trợ, đã công bố một bảng chiết tính dài 31 trang cho thấy mọi cách qua đó, tôn giáo đã góp phần vào nền kinh tế Hoa Kỳ như thế nào.

Khoản thu nhập lớn nhất trong số 378 tỷ đôla này là của các hệ thống chăm sóc sức khỏe thống thuộc các tôn giáo. Các nhóm tôn giáo này điều hành nhiều bệnh viện tại Hoa Kỳ; các hệ thống chăm sóc sức khỏe riêng của Công Giáo mà thôi đã chiếm 1 trong 6 giường bệnh của cả nước rồi.

Rồi còn có các nhà thờ và cộng đoàn nữa. Dựa vào các cuộc điều tra dân số Hoa Kỳ trước đây, cha con ông Grim đã xem xét 344,894 cộng đoàn thuộc 236 hệ phái tôn giáo khác nhau (217 hệ phái Kitô Giáo, số còn lại là của các tôn giáo khác như Thần Giáo, Lão Giáo, Zoroastrian…). Tính tổng cộng, thành viên của các cộng đoàn này chiếm tới 50 phần trăm dân số Hoa Kỳ. Thu nhập trung bình hàng năm của một cộng đoàn này là 242,910 đôla.

Phần lớn thu nhập trên là do các thành viên dâng cúng. Như thế, quả người Hoa Kỳ đã dâng cúng cho các cộng đoàn tôn giáo của họ mỗi năm 74.5 tỷ đôla.

Các cơ quan bác ái tôn giáo cũng đóng góp đáng kể vào nền kinh tế. Theo bản nghiên cứu này, Lutheran Services of America là cơ quan bác ái tôn giáo lớn nhất với thu nhập điều hành hàng năm lên tới 21 tỷ đôla. Bản nghiên cứu liệt kê thêm 17 cơ quan bác ái tôn giáo khác trong số 50 cơ quan bác ái lớn nhất của Hoa Kỳ theo tạp chí Forbes, với thu nhập từ 300 triệu đôla (Cross International) tới 6 tỷ 6 đôla (YMCA USA).

Hầu hết các cơ quan bác ái đều là của Kitô Giáo, ngoại trừ Ủy Ban Phân Phối Hỗn Hợp Mỹ Do Thái (American Jewish Joint Distribution Committee), với thu nhập điều hành hàng năm 400 triệu đôla.

Thu nhập tôn giáo cũng bao gồm các cao đẳng và đại học tôn giáo, nơi các sinh viên đóng hơn 46 tỷ 7 đôla học phí hàng năm. Con số trên cũng bao gồm các thu nhập về học phí ở các trường tiểu và trung học, ngành sách vở Kitô Giáo, tiền bán âm nhạc Kitô Giáo, hệ thống truyền hình EWTN và CBN và 1 tỷ 9 đôla của kỹ nghệ thực phẩm halal. Bản nghiên cứu cũng kể 12 tỷ rưỡi đôla tiền bán thực phẩm ăn chay cổ điển của người Do Thái (kosher), không kể 300 tỷ đôla tiền bán các thực phẩm có chứng nhận hợp tiêu chuẩn kosher được người không theo Do Thái Giáo mua dùng.

Bản nghiên cứu còn đề nghị nhiều cách khác để người ta tính phần đóng góp của các tôn giáo vào nền kinh tế Hoa Kỳ, như thu nhập của các doanh nghiệp có liên hệ tới đức tin như Hobby Lobby và Chick-fil-A, lợi tức thu tại rạp của các phim ăn khách như “Trời có thật” (“Heaven Is for Real”) và cả lợi tức gia hộ của hàng triệu người Hoa Kỳ đang điều hành sinh hoạt tài chánh của họ theo các nguyên tắc hướng dẫn của đức tin.

Nhưng chỉ tính tới thu nhập trực tiếp của các cơ sở kinh doanh của nó, tôn giáo hiện được kể là có thu nhập khá cao trong nền kinh tế 16 ngàn tỷ đôla GDP của cả nước, lớn hơn bất cứ tổ hợp đại công ty nào.


Vũ Văn An, VCN
Hôm nay là ngày Khai giảng năm học 2016 – 2017 của Khóa Cao học Thần học, mà hơn nữa còn là ngày chính thức khai mào sinh hoạt của HVCGVN. Vì vậy, chúng con xin được trình bày tóm lược những bước hình thành của HVCGVN.
Lễ Khai Giảng Khóa Cao Học Thần Học (Ngày 14.09.2016)
HỌC VIỆN CÔNG GIÁO VIỆT NAM
_____________________________________
72/12 Trần Quốc Toản, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh
Email: uybangiaoduc@gmail.com; Đt: 093 890 5015 – 096 725 7483.

HocVienCongGiao-01.jpg

Viễn Tượng Học Viện Công Giáo Việt Nam
Lễ Khai Giảng Khóa Cao Học Thần Học
Ngày 14.09.2016

Trọng kính Đức Tổng Phaolô, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) Chưởng ấn Học Viện Công Giáo Việt Nam (HVCGVN)
Trọng kính quý Đức Cha
Kính thưa quý Cha Bề Trên các Hội Dòng
Kính thưa quý Khách
Kính thưa quý Cha, quý Dì và quý Anh Chị trong Ban Giáo sư và Ban Điều hành của HVCGVN
Kính thưa quý Cha và quý Tu sĩ - Sinh viên của HVCGVN



Hôm nay, giấc mơ của HĐGMVN về Đại Học Công Giáo được chính thức thành hình trong những bước đầu. Đây là kết quả của sự cộng tác và nhiệt tâm của nhiều thành phần Dân Chúa, dưới sự lãnh đạo của các Giám mục Chủ tịch Ủy Ban Giáo Dục Công Giáo (UB.GDCG) của HĐGMVN.

I/ TÓM LƯỢC NHỮNG BƯỚC HÌNH THÀNH HVCGVN

Hôm nay là ngày Khai giảng năm học 2016 – 2017 của Khóa Cao học Thần học, mà hơn nữa còn là ngày chính thức khai mào sinh hoạt của HVCGVN. Vì vậy, chúng con xin được trình bày tóm lược những bước hình thành của HVCGVN.

- Trong Hội Nghị Thường niên Kỳ I năm 2010, 05-09/4/2010, tại Bãi Dâu, HĐGMVN đã bàn thảo và quyết định thành lập “Học Viện Thần Học Cao Cấp cho Giáo Hội Việt Nam”. Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, khi đó là Chủ Tịch UB.GDCG và sau đó, Đức Cha Tôma Vũ Đình Hiệu, Chủ Tịch nhiệm kỳ tiếp theo, đã bắt tay vào công việc khó khăn của những bước đầu qua việc tham khảo ý kiến của nhiều thành phần Dân Chúa.

- Ngày 28/01/2014 Dự Án “Học Viện Thần Học Cao Cấp” được UB.GDCG chính thức gửi đến quý Đức Hồng Y, quý Đức Tổng, quý Đức Cha trong HĐGMVN, quý Cha Giám Đốc các Đại Chủng Viện, Học Viện Thần Học và quý Bề Trên các Hội Dòng để xin ý kiến.

- Từ những ý kiến nhận được, UB.GDCG đã soạn thảo Dự Án về Học Viện Thần Học với danh xưng Học Viện Công Giáo Việt Nam. Dự án này được HĐGMVN bàn đến trong Hội Nghị Thường Niên Kỳ I năm 2014, tổ chức từ ngày 21-15/4/2014, tại Trung Tâm Công Giáo TGP. TP HCM và được chấp thuận ngày 22/4/2014

- Ngày 29/4/2014, Đức Cha Chủ tịch UB.GDCG trình bày Dự án “HVCGVN” lên Bộ Rao Giảng Tin Mừng cho các Dân Tộc.

- Ngày 02/5/2014, Đức Cha Chủ tịch UB.GDCG trình bày Dự án “HVCGVN” lên Bộ Giáo Dục Công Giáo (GDCG) của Tòa Thánh.

- Ngày 25/5/2014, Đức Tổng Phaolô, Chủ Tịch HĐGMVN gửi văn thư sang Bộ GDCG của Tòa Thánh, xin thành lập một Phân Khoa Thần Học cho Giáo Hội Việt Nam.

- Ngày 12/6/2014, Bộ GDCG của Tòa Thánh gửi văn thư chấp thuận chủ trương cho HĐGMVN thành lập một Học viện Thần Học tự lập (Autonomous Institute of Theology), tức là một Phân Khoa Thần Học.

- Ngày 02/01/2015, Đức Tổng Phaolô, Chủ Tịch HĐGMVN gửi văn thư đến Thủ Tướng Chính Phủ xin được thành lập HVCGVN.

- Ngày 07/7/2015, Ban Tôn Giáo Chính Phủ gửi đến HĐGMVN văn thư cho chủ trương thành lập HVCGVN.

- Ngày 06/8/2015, Ban Tôn Giáo Chính Phủ trao Quyết Định cho thành lập HVCGVN.

- Ngày 14/9/2015, Lễ Suy tôn Thánh Giá, Bộ GDCG của Tòa Thánh ký Sắc lệnh thành lập HVCGVN và ngày 21/10/2015 chính thức trao Sắc lệnh này cho HĐGMVN cùng với văn thư bổ nhiệm Đức Cha Giuse Đinh Đức Đạo, Chủ tịch UB. Giáo dục Công giáo, làm Viện Trưởng HVCGVN, trong thời kỳ phôi thai của HVCGVN.

- Ngày 05-06/7/2016, HVCGVN mở cuộc thi tuyển Khóa Cao học Thần học.

- Ngày 14/9/2016, Khai giảng Khóa Cao học Thần học. HVCGVN chính thức bước vào thời kỳ hoạt động.

II/ MỤC ĐÍCH CỦA HỌC VIỆN CÔNG GIÁO VIỆT NAM

1/ Nhìn vào nhu cầu đời sống của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam (GHCGVN) hôm nay, người ta có thể thấy ngay mục đích của HVCGVN là góp phần vào nỗ lực nâng cao kiến thức và khả năng thần học của mọi thành phần Dân Chúa (Linh mục, Tu sĩ, Giáo dân), qua việc đào tạo các cấp Cao học và Tiến sĩ. Kiến thức sâu xa và khả năng suy tư thần học ở nơi nào và vào thời đại nào cũng hữu ích, nhưng đặc biệt cần thiết cho người công giáo Việt Nam hôm nay, đứng trước những hoàn cảnh của thời đại, nhất là hai hoàn cảnh sau đây:

- Qua các phương tiện truyền thông và qua các cuộc gặp gỡ, giao lưu với nhiều thành phần trong nước và các quốc gia khác, người Công giáo Việt Nam tiếp xúc với rất nhiều trào lưu tư tưởng và nếp sống khác nhau. Những tư tưởng và nếp sống đó có thể đóng góp cho việc hiểu và sống Tin Mừng được sâu đậm và phong phú hơn, nhưng cũng có thể gây ra những khó khăn, nghi nan về nếp sống theo Tin Mừng hay về chính Tin Mừng của Chúa.

- Vì nhu cầu, cơ cấu và nếp sống của xã hội kỹ nghệ hóa và kỹ thuật hóa, cuộc sống của con người Việt Nam đang từ từ chuyển biến từ nếp sống có tính cách gia đình và cộng đoàn sang nếp sống mang đậm tính cá nhân. Trong hoàn cảnh này, truyền thống và tập tục sống đạo sẽ không đủ để nâng đỡ đời sống Đức Tin của các tín hữu, mà còn cần có sự hiểu biết và xác tín cá nhân của người tín hữu nữa.

2/ Nhìn vào chiều sâu, việc thành lập HVCGVN còn có nhiều ý nghĩa quan trọng khác

- Trước tiên, đối với chính Giáo Hội Công giáo Việt Nam (GHCGVN), việc thành lập HVCGVN nói lên mức độ trưởng thành của GHCGVN. Để thấy rõ ý nghĩa của nhận định nói trên, cần phải hiểu là việc đào tạo nhân sự trên khía cạnh trí thức theo hệ thống Đại học trong Giáo hội Công giáo (GHCG) có ba cấp (Chu kỳ). Cấp I là cấp căn bản, kéo dài 5 năm và kết thúc với bằng Cử nhân Thần học; Cấp II là cấp chuyên môn, kéo dài 2 hay 3 năm, tùy theo chuyên ngành và kết thúc với bằng Cao học Thần học và Cấp III là cấp nghiên cứu chuyên ngành, kéo dài 3 hay 4 năm tùy khả năng làm việc của mỗi ứng viên và kết thúc với bằng Tiến sĩ Thần học. Cho đến nay, GHCGVN mới có các Đại Chủng viện. Chương trình học về khía cạnh trí thức của Đại Chủng viện tương đương với chương trình học của Cấp I trong hệ thống Đại học của GHCG.

- Đối với GHCG hoàn vũ, qua Học viện Công giáo, GHCGVN sẽ có cơ hội đóng góp với Giáo Hội hoàn vũ những suy tư về Đức Tin và về những kinh nghiệm sống Đức Tin của mình. Tuy cùng một Đức Tin, nhưng Đức Tin sẽ được mỗi người, mỗi dân tộc diễn tả theo sắc thái văn hóa và hoàn cảnh sống riêng biệt của mình. Ngoài ra, các suy tư thần học phát xuất từ một đời sống Đức Tin sống động như đời sống của GHVN hiện nay, chuyển tải sức sống của Tin Mừng và đây chắc chắn là một đóng góp quan trọng mà GHVN có thể dâng tặng cho Giáo Hội Hoàn Vũ.

- Đối với Quê Hương Việt Nam, GHCGVN hy vọng có những đóng góp qua các nghiên cứu của HVCGVN. Với những suy tư dưới ánh sáng của Đức Tin, người Công giáo sẽ làm cho nhiều yếu tố và nếp sống của truyền thống Việt Nam được rõ nét và tươi sáng hơn. Chẳng hạn về chữ Hiếu. Người Việt Nam nào cũng coi trọng lòng hiếu thảo đối với Tổ tiên và ông bà, cha mẹ vì là nét đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam, nhưng đối với người CGVN, lòng hiếu thảo còn có tính chất linh thiêng vì là lệnh truyền của Thiên Chúa. Trong đạo Công giáo có 10 Điều Răn của Đức Chúa Trời. Sau 3 điều răn về bổn phận đối với chính Thiên Chúa, điều răn thứ bốn là điều răn về lòng hiếu thảo: “Hãy thảo kính Cha Mẹ”. Với nền tảng văn hóa và thần học vững chắc, người Công giáo rất trân trọng chữ Hiếu và có những nếp sống về lòng hiếu thảo rất đặc biệt và sâu đậm. Chỉ cần tham dự Thánh Lễ thì biết là người Công giáo cầu nguyện cho Tổ tiên và ông bà, cha mẹ hằng ngày và nếu đến nghĩa trang của người Công giáo vào ngày 02 tháng 11 và ngày Mồng Hai Tết sẽ thấy tâm tình của người Công giáo đối với Tổ tiên và ông bà, cha mẹ của họ sâu đậm chừng nào. Những suy tư và nếp sống hiếu thảo của người Công giáo sẽ là một đóng góp cho Đạo Hiếu của anh chị em đồng bào của mình.

III /ĐẶC TÍNH CỦA HỌC VIỆN CÔNG GIÁO VIỆT NAM: HIỆP NHẤT

Đặc tính của HVCGVN là tinh thần hiệp nhất, biết quy tụ những yếu tố khác biệt và biến chúng thành yếu tố bổ túc cho nhau, làm cho tất cả được thêm phong phú.

Tinh thần hiệp nhất phát sinh ngay từ bản chất của Học Viện Công Giáo, vì HVCGVN là chủ trương của HĐGMVN cho toàn thể GHCGVN và việc thực hiện của Học viện này là kết quả của sự cộng tác của mọi thành phần Dân Chúa của GHVN: các Giáo phận, các Dòng tu, Linh mục, Tu sĩ, Giáo dân. Ban giảng huấn cũng nói lên sự hợp tác của nhiều thành phần, gồm Linh mục Giáo phận, Linh mục dòng, Tu sĩ nam nữ và Giáo dân. Xét về nguồn gốc thụ huấn, Ban Giảng Huấn gồm những vị đã được đào tạo và tốt nghiệp Tiến sĩ bên Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Pháp, Rôma, Phi luật tân, Vương quốc Bỉ, Đức Quốc, v.v. Ngoài ra, Học viện cũng có chương trình mời một số vị thỉnh giảng từ các Đại học quốc tế và liên kết với các Đại học quốc tế cho một số chương trình cụ thể. Hiện nay, HVCGVN đã có những chương trình cụ thể liên kết với Đại học “Holy Family University” bên Philadelphia/USA và Đại học Công giáo Leuven (Vương quốc Bỉ). Hy vọng, trong tương lai, HVCGVN sẽ còn liên kết với một số Đại học khác nữa.

Hôm nay, HVCGVN được đặt trong tòa nhà Văn Phòng HĐGMVN. Chúng ta hy vọng trong một thời gian không xa, với sự hỗ trợ của nhiều người, HVCGVN sẽ có không gian riêng, rộng rãi và xứng hợp hơn.

IV/ MỘT GIẤC MƠ

Giáo hội Công Giáo Việt Nam ước mơ về một Đại học Công giáo có uy tín và mở rộng để phục vụ các Giáo hội địa phương trong khu vực.

Với nguồn nhân lực, cũng như trình độ và khả năng của Ban Giảng huấn, Học viện Công giáo Việt Nam đã được Bộ Giáo Dục của Tòa Thánh công nhận và cho phép hoạt động. Do đó, văn bằng Thần học của HVCGVN có giá trị sánh ngang với văn bằng Thần học của các Đại học Công giáo quốc tế trên thế giới. Tuy nhiên, trên thế giới và ngay cả trong Giáo Hội Công giáo, có những Đại học có nhiều uy tín hơn các Đại học khác. Chúng ta mơ ước và đưa hết tâm lực thực hiện để HVCGVN sẽ trở thành một Đại học có uy tín trên thế giới.

Chúng ta muốn mơ xa hơn, đó là HVCGVN sẽ được tham dự vào việc giáo dục ở các ngành khác, ngoài Thần học và từ từ phát triển để đáp ứng nhu cầu, không phải chỉ của GHVN và cả những nước trong khu vực. Khi sang Rôma tham dự Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới, có dịp nói chuyện với Đức Tổng Giám Mục Nagasaki (Nhật Bản) và Đức Cha Chủ tịch HĐGM Laos – Republica Khmer, các ngài tỏ lòng mong ước Việt Nam mở Đại học Công Giáo để các ngài có thể gửi chủng sinh sang học. Cả các nhân viên Ban Tôn Giáo Chính Phủ cũng cầu mong cho HVCGVN không những chỉ phục vụ Giáo Hội tại Việt Nam, mà cả Giáo Hội tại các nước trong khu vực. Viễn tượng này đòi hỏi nhiều yếu tố, trong đó Ban Giáo Sư có khả năng truyền đạt kiến thức thần học bằng Anh ngữ là một yếu tố không thể thiếu.

Chúng ta tin tưởng rằng những giấc mơ của HĐGMVN về HVCGVN sẽ được thực hiện vì chúng ta không chỉ có các cộng tác viên, mà các cộng tác viên có khả năng, nhiệt thành, quảng đại và cùng hướng về giấc mơ của HĐGMVN và của chung GHVN. Đó chính là các Linh mục, Tu sĩ và các Anh chị trong Ban Giáo Sư và Ban Điều Hành của HVCGVN.

+ Giuse Đinh Đức Đạo
Viện Trưởng HVCGVN

(WGP.Xuân Lộc 15.09.2016)

HocVienCongGiao-02.jpg

HocVienCongGiao-03.jpg

HocVienCongGiao-04.jpg

HocVienCongGiao-05.jpg

HocVienCongGiao-06.jpg

HocVienCongGiao-07.jpg

HocVienCongGiao-08.jpg

HocVienCongGiao-09.jpg

HocVienCongGiao-10.jpg

HocVienCongGiao-11.jpg

HocVienCongGiao-12.jpg

HocVienCongGiao-13.jpg

HocVienCongGiao-14.jpg

HocVienCongGiao-15.jpg

HocVienCongGiao-16.jpg

TGP.Sài Gòn
Bản quyền của SVCG Thánh Tâm - Huế. chi tiết xin liên hệ: sinhvienthanhtamhue@gmail.com. Cung cấp bởi Blogger.
| Copyright © 2013 SVCG Thánh Tâm - Huế